Thứ Bảy, 14 tháng 5, 2011

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT 4 PHỤC SINH NĂM A (Ga 10, 1-10)


Mời xem videoclip

CHÚA CHIÊN CỦA TÔI
Lm John Vũ Nghi, CMC

Mấy năm trước đây, một bé gái 5 tuổi được đưa vào viện mồ côi. Mấy ngày trước đó, bố mẹ của em đã cãi vã với nhau, bố em đã bắn chết mẹ em, rồi quay súng lại mà tự vẫn. Tất cả xảy ra trước sự chứng kiến của em. Đến ngày Chúa Nhật sau đó, em được đưa đến Nhà thờ Công Giáo để tham dự thánh lễ và sau đó, dự lớp Giáo lý. Vì sợ cô giáo không hiểu hoàn cảnh của em, người coi sóc viện mồ côi đã phải căn dặn cô giáo: Bố mẹ của em là người vô thần, nên chắc chưa bao giờ bé được nghe về Thiên Chúa, vì vậy, xin cô giáo nhẫn nại với em. Trong buổi học đầu, cô giáo đã giơ cao một bức hình Chúa Giêsu và hỏi cả lớp: "Có em nào biết đây là ai không?" Cô bé giơ tay trả lời: "Em biết, đó là người đã ôm em vào lòng sau khi ba má em chết."

Câu chuyện của em bé trên đây chỉ là một trong ngàn vạn câu chuyện thương tâm khác đang xảy ra trong xã hội ngày nay. Chồng giết vợ, mẹ giết con, con giết bố mẹ, bạn bè thanh toán nhau, nhân công ám hại nhau, là những mẩu tin chúng ta thường đọc thấy trong báo hằng ngày. Trong những ngày tháng gần đây, nạn khủng bố đã gây tang tóc thương đau cho biết bao gia đình. Những lá thư hăm dọa đã khiến cho con người sống trong lo sợ. Quân khủng bố đã bất chấp thủ đoạn khi hành động. Tháng Giêng vừa qua tại Do Thái, lần đầu tiên một phụ nữ đã nổ bom tự sát để giết người. Sau đó, người ta tìm ra chị ta là một trong những nhân viên cứu thương của thành phố. Hôm trước cứu người; hôm sau giết người. Thật là khó hiểu. Hơn nữa, họ còn coi đây là thánh chiến. Lắm lúc nghĩ cũng thấy buồn. Ba tôn giáo lớn trên thế giới: Kitô giáo, Hồi giáo, Do thái giáo cùng tôn thờ một Thiên Chúa của tổ phụ Abraham, thế mà đã mười mấy thế kỷ chém giết nhau. Con cháu tổ phụ Abraham ngày nay đã đông như sao trên trời như cát dưới biển, đúng như Lời Chúa đã hứa, nhưng tiếc thay con cháu tổ phụ lại cắn xé nhau, để rồi gây tan tác cho đoàn chiên của Chúa.

Khi xưa, Chúa Giêsu sống trong một xã hội tuy không hận thù khủng bố, nhưng cũng mang đầy những thù ghét, chia rẽ, kỳ thị và bất công. Những người Samaritanô, tuy cũng mang giòng máu Do thái, nhưng lại bị người Do thái coi là dân ngoại; những người thu thuế bị coi là người tội lỗi, nên tuyệt đối bị những người "ngoan đạo" xa tránh; những người phong cùi bị đuổi ra sống bên ngoài xã hội. Đứng trước thảm trạng đó, Chúa Giêsu đã đến và đã ví mình như gà mẹ túc con dưới cánh để bảo vệ và vỗ về. Chúa đã tỏ tình thương và mối quan tâm đặc biệt đối với những người tội lỗi, nghèo khó, bệnh tật, những người sống bên lề của xã hội. Chúa cũng ví mình như một Chủ Chiên đến để qui tụ đoàn chiên đã bị chia ly phân tán, và để đem lại sức sống và niềm hy vọng cho đoàn chiên: "Ta đến để cho chúng được sống và được sống dồi dào."

Với hiện trạng của thế giới, Lời Chúa vẫn còn mang một ý nghĩa đặc biệt cho con người ngày nay. Thật vậy, Chúa Giêsu, Chúa Chiên của chúng ta, đã đến để chúng ta được sống, nhưng không phải sống trong chán chường tẻ lạnh, một cuộc sống vô nghĩa. Chúa đến là để chiên của Ngài được sống một cách dồi dào, nghĩa là một cuộc sống đầy yên vui, an bình, và yêu thương. Đó là điều Chúa đã hứa ban cho mỗi người chúng ta, và Ngài đã và đang thực hiện lời hứa của Ngài nơi những con chiên đáp lại lời mời gọi của Ngài và vâng theo sự hướng dẫn của Ngài.

Với tình thương bao la của người, Chúa đã đến kêu gọi mỗi người chúng ta hãy tiến bước theo Ngài, hãy nhập đoàn chiên của Ngài. Đây không phải là lời mời gọi một cách chung chung, nhưng là lời mời có tính cách cá nhân và trực tiếp. Cũng như ngày xưa Chúa đã đến gặp Nicôđêmô, Giakêu, Matthêu, người đàn bà Samaritanô bên bờ giếng Giacob, và người bất toại bên bờ Bếtsaiđa, thì ngày nay Chúa cũng vẫn còn đến để phù trợ, chữa lành, gặp gỡ, hướng dẫn, và chỉ bảo chúng ta trong cuộc sống. Ngài ban Thánh Thần của Ngài cho chúng ta để an ủi, nâng đỡ, giúp sức, và sự khôn ngoan, để chúng ta có đủ sức đối diện với mọi khó khăn trong cuộc đời. Qua Lời Chúa và các Bí tích, đặc biệt là Bí tích Thánh Thể, Ngài bảo vệ và ban ơn giúp chúng ta thoát khỏi nanh vuốt của thần dữ, như những kẻ trộm, đang bày trò hãm hại chúng ta. Và những khi chúng ta vấp ngã, qua Bí tích Xá giải, Ngài sẵn sàng ôm chúng ta vào lòng để tha thứ yêu thương, như người cha nhân lành đối xử với đức con phung phá.

Ước chi chúng ta hãy đáp lại lời mời của Ngài. Hãy luôn nhận Ngài là Chúa Chiên của mình và luôn tin tưởng vào sự hướng dẫn phù trợ của Ngài. Có Chúa ở cùng, cho dù bất cứ điều gì xảy ra, tâm hồn chúng ta vẫn tìm được sự bình an. Không phải là chúng ta sẽ hết phải đau khổ, nhưng vì chúng ta có Chúa là sức mạnh và là nguồn ủi an cho chúng ta, nên không gì lấy mất đi niềm hy vọng và sự bình an trong tâm hồn chúng ta được. "Chúa là Mục Tử chăn dắt tôi, tôi chẳng thiếu thốn chi. Dù bước đi trong thung lũng tối, tôi sợ gì nguy khốn, vì có Chúa ở cùng tôi" (Tv 23).


NS Trái Tim Đức Mẹ

Thứ Tư, 11 tháng 5, 2011

MỪNG PHỤC SINH 2011




Chúa Nhật 08.5.2011, lúc 11g30 ca đoàn Cécilia giáo xứ Thuận Phát đã họp mặt liên hoan Mừng Lễ Phục Sinh 2011. Rất tiếc Cha Chánh xứ đã không thể chung vui với ca đoàn được do ngài đang bị bệnh. Ngoài ra còn có hai vị thân hữu do bận việc gia đình đã cáo từ. Về phần ca đoàn vắng mặt 7 ca viên.

- Mời xem thêm hình

- Mời xem videoclip

Thứ Bảy, 7 tháng 5, 2011

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT 3 PHỤC SINH NĂM A (Lc 24, 13-35


ĐỂ NHẬN RA
SỰ HIỆN DIỆN CỦA CHÚA


Lm Trần Bình Trọng
Mặc dầu đã theo Chúa 3 năm, nghe Lời Chúa giảng dạy, và chứng kiến phép lạ Chúa làm, các tông đồ vẫn còn mang quan niệm sai lầm về Đấng Cứu Thế. Họ nuôi hy vọng là Đấng Cứu Thế sẽ thiết lập một vương quốc trần gian, hùng mạnh, khả dĩ có thể đánh đuổi quân La Mã đang cai trị họ thời bấy giờ, và đưa dân tộc họ lên hàng bá chủ hoàn cầu. Cũng vì mang quan niệm đó mà bà mẹ hai Tông đồ Giacôbê và Gioan đã xin Chúa cho hai con mình được ngồi một bên tả và một bên hữu Chúa.

Cuộc tử nạn của Chúa Kitô trên thập giá đã khiến cho các môn đệ vỡ mộng, làm tiêu tan mọi mối hy vọng của các ông. Do đó hai môn đệ đã bỏ thành Giêrusalem trở về Em-mau quê quán mình. Nói cách khác, họ quyết định bỏ cuộc. Mặc dầu Chúa đã tiên báo về cuộc tử nạn và phục sinh của Người, các môn đệ vẫn không hiểu.


Hai môn đệ bỏ cuộc hôm nay cố gắng tìm kiếm trong Thánh Kinh những lời lẽ để cắt nghĩa về cuộc khổ nạn của Thầy mình. Và dọc đường Chúa đã hiện ra với các ông, đàm đạo với các ông và nói: "Chớ thì Đức Kitô chẳng phải chịu đau khổ như vậy thì mới được vào vinh quang sao? Đoạn Người bắt đầu từ Môisen đến tất cả các tiên tri, giải thích cho hai ông tất cả các lời Kinh thánh chỉ về Người "
(Lc 24, 26-27). Nhờ đó mắt họ được mở ra và họ nhận ra Chúa lúc Người bẻ bánh. Khi hai môn đệ nhận ra Người khách lạ, không là ai khác ngoài Thầy mình, họ liền vội vả trở về Giêrusalem để báo tin cho các tông đồ. Và họ được biết rằng, các tông đồ cũng đã xác tín về việc Chúa Phục sinh, vì Simon Phêrô đã nhìn thấy Chúa. Trong khi họ bàn luận với nhau về những sự việc mới xẩy ra, thì Chúa lại hiện ra giữa họ.

Hai môn đệ trên Em-mau cùng đồng hành với Chúa, đàm đạo với Chúa mà không nhận ra Người. Sở dĩ có trạng huống đó, là vì họ đã tự đóng khung trong cái tư tưởng và quan niệm của họ về Đấng Cứu Thế. Có lẽ họ chỉ nghĩ thôi, từ nay sẽ không còn hi vọng địa vị nọ địa vị kia trong vương quốc Chúa. Họ để cho mình bị chìm đắm và chôn vùi trong cái buồn khổ của cảnh tử nạn ngày Thứ Sáu Tuần Thánh. Cái nỗi buồn chán thất vọng đã đè nặng trên con người họ, khiến họ không thể vươn lên trên và vượt ra ngoài cái khung của con người họ, cho tới khi họ mời người khách lạ vào nhà, vì khách cần chỗ nghỉ, họ mới nhận ra Chúa.


Ta biết Chúa hiện diện khắp mọi nơi, Chúa ở chung quanh ta, nhưng ta không nhận ra Người. Hàng ngày và xung quanh ta, đều có ghi khắc những dấu vết của Chúa, và công trình của việc Chúa tạo dựng. Tuy nhiên ít khi ta cố gắng tìm kiếm hầu có thế khám phá ra những dấu vết của Chúa, để ý thức về sự hiện diện của Người. Có lẽ bởi vì ta tự đóng khung trong cái vỏ ốc của mình. Ta để cho những phiền muộn thái quá đè nặng trên con người ta, khiến ta không vượt ra khỏi mình, làm cho tư tưởng, ý nghĩ của mình, làm cho tư tưởng, ý nghỉ và cảm tình của ta bị giới hạn trong thân xác. Thêm vào đó, những bận tâm về sự việc trần thế cũng làm cản trở cho việc đến với Chúa. Vậy để khám phá ra sự hiện diện của Chúa, để có thể cảm nghiệm được việc Chúa hiện diện quanh mình, người ta phải loại bỏ những chướng ngại vật trong đời sống: những bận tâm, lo lắng, những tham vọng hão huyền....


Các môn đệ không nhận ra người khách lạ, nếu họ không mời Chúa vào nhà. Ta cũng sẽ không nhận ra Chúa hiện diện quanh mình, nếu ta không mời Chúa vào nhà tâm hồn. Nếu ta tự đóng cửa nhà tâm hồn thì Chúa cũng đành bó tay, vì Chúa đã cho loài người tự do lựa chọn và Chúa tôn trọng tự do của loài người.


Cũng như hai môn đệ làng Em-mau đã mời Chúa vào nhà, hôm nay ta cũng hãy mời Chúa vào nhà tâm hồn, và mở rộng tâm hồn đón nhận lời Chúa và ơn Chúa, để quyền năng Chúa tác động tâm hồn và đời sống.


(tinmung.net)

Thứ Năm, 5 tháng 5, 2011

HỘI THẢO THÁNH NHẠC TOÀN QUỐC

Hội thảo Thánh Nhạc
toàn quốc lần thứ 28


Vào lúc 08g00 sáng ngày 03-05-2011 tại hội trường Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Thuận thuộc Trung tâm Mục Vụ Tổng Giáo phận Tp.HCM, dưới sự chủ tọa của Đức Giám mục Vinh Sơn Nguyễn Văn Bản, Chủ tịch Ủy ban Thánh Nhạc và linh mục Roco Nguyễn Duy, Tổng Thư ký Ủy ban Thánh Nhạc, trực thuộc Hội đồng Giám mục Việt Nam, với sự hiện diện của Đức Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Hòa cùng 86 hội thảo viên gồm: các linh mục, tu sĩ, nhạc sĩ trong các ban Thánh Nhạc của 26 Giáo phận đã diễn ra cuộc hội thảo Thánh Nhạc Toàn Quốc lần thứ 28 với chủ đề: “Hướng Dẫn Mục Vụ Thánh Nhạc”.

Sau phần khai mạc, linh mục Roco Nguyễn Duy đã phát biểu những điểm nhấn trong bản dự thảo Hướng dẫn Mục Vụ Thánh Nhạc, như cẩn thận trong việc chọn bài hát. Khi chọn phải có 3 thẩm định là: Phụng vụ, mục vụ và âm nhạc hay trong các Thánh lễ có nghi thức riêng thì nên chọn những bài có trong Thánh Vịnh theo nghi thức Phụng vụ.

Linh mục nhạc sĩ Kim Long phát biểu: Cần phải tôn trọng bản văn trong phụng tự của những đáp ca đã có Imprimatur (được phép sử dụng) trước đây, vì bản văn mới chưa có, còn các bản văn Giờ Kinh chỉ tạm, chưa phải chính thức trong Thánh lễ.

Đến 09g45 sau khi giải lao, các hội thảo viên được chia thành 3 nhóm thảo luận. Sau phần thảo luận của từng nhóm, 10g35 các nhóm đã tập trung lại hội trường đóng góp ý kiến chung. Gồm có:

- Nên có thông báo chính thức về các bậc lễ.
- Đưa bản dự thảo Hướng dẫn Mục vụ Thánh Nhạc ra thử nghiệm.
- Làm sao biết được bài hát nào có Imprimatur?
- Dùng nhạc nền thu âm sẵn hát lễ có được không?
- Dùng nhạc thu sẵn để Chầu Thánh Thể có được không?
- Bài Hiệp lễ thường hát về các Thánh, chọn theo tác giả, tác phẩm mà không theo Phụng vụ.

Đức Giám mục Phaolô Nguyễn Văn Hòa phát biểu: Nhạc là để cầu nguyện nên đưa vào máy là không được, đây không là chuyện hay dở mà là tâm tình.

ĐGM Vinh Sơn trả lời: Nếu dùng ghi âm trong Phụng vụ thì nó đã thay thế cho chúng ta, mở băng trong Phụng vụ là không được phép làm, trong Phụng vụ không thể thay thế, ngoại trừ giờ tĩnh tâm riêng có thể sử dụng trong lúc thinh lặng suy niệm, nhưng phải biết rõ cái nào là Phụng vụ và ngoài Phụng vụ.

Linh mục Roco cho biết về vấn đề Imprimatur, mỗi Giáo phận đều có ban Thánh Nhạc nếu có yêu cầu xin gửi cho ban Thánh Nhạc và khi sử dụng phải có chữ ký của Đức Giám mục, nhưng nên chú ý về lời và nhạc nền nên gần với bình ca, tất cả các bài trong Tuyển Tập Thánh Ca Việt Nam đều được sử dụng trong Phụng vụ.

Kết thúc, ĐGM Chủ tịch Ủy ban Thánh Nhạc, Hội đồng Giám mục Việt Nam đã cám ơn sự góp ý chân thành của các hội thảo viên, tiếp tục nhận ý kiến đóng góp trong 3 tháng cho đến đại hội kế tiếp. ĐGM cũng đề cử linh mục Trương Huy Hoàng, Giáo phận Phú Cường giữ chức Chủ tịch Câu Lạc Bộ Sáng Tác thay thế Linh mục Mi Trầm xin nghỉ vì lý do sức khỏe. ĐGM nói thêm: Người ta có thể phê bình hát hay, đàn hay hoặc không hay thì không sao, nhưng không chấp nhận không đúng Phụng vụ.

Sau khi nhận phép lành của 2 ĐGM Vinh Sơn và Phaolô, mọi người ra về trong tâm tình hân hoan, hẹn gặp lại nhau trong Hội Thảo lần thứ 29.


Nghe Audio tại đây

Xem hình tại đây

(nguồn : WGPS)

Chủ Nhật, 24 tháng 4, 2011

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT PHỤC SINH NĂM A (Ga 20, 1-9)

Mời xem videoclip

CHÚA PHỤC SINH

Trong dòng thác người tín hữu đông đúc
Đến Thánh Đường đêm Đại Lễ Phục sinh
Nguyện đường này xưa mấy lần hai mình
Đi dự lễ vui bên nhau hạnh phúc …

Anh không sao có thể tìm gặp được
Bóng dáng em đã hòa quyện đám đông
Tất cả đang sốt sắng ở trong lòng
Vì tim họ tràn đầy ánh sáng Chúa

Ánh sáng đêm …áp Phục Sinh lan tỏa
Mừng Giêsu con Thiên Chúa Phục Sinh
Sáng chan hòa chiếu soi mọi con tim
Cùng tín hữu mừng Con Chúa sống lại

Anh ước mong tìm gặp em trở lại
Sau những năm tù tội bị đi xa
Nhưng lòng anh không quên em ở nhà
Mỗi Chúa Nhật đến nguyện đường dự lễ

Không thấy em đêm Phục Sinh trọng thể
Có lẽ em có mặt trong đám đông
Anh kỳ vọng với nguyện ước trong lòng
Cùng bên em mừng Con Chúa Sống Lại

Anh cô đơn vẫn kiên trì đứng đợi
Đợi ngay cổng nhà nguyện khi lễ về
Với hy vọng gặp được em vui ghê
Ta sống lại những kỷ niệm thuở trước

Con tim anh không thể quên em được
Chúa Phục Sinh đem ta lại với nhau
Để chia sẻ buồn vui nơi trần thế
Tôn thờ Chúa nhớ kỷ niệm buổi đầu …


Cao Trí Dũng
(thanhlinh.net)

Thứ Bảy, 16 tháng 4, 2011

CUỘC THƯƠNG KHÓ CỦA CHÚA - NHẬT LỄ LÁ NĂM A (Mt 26,14-27,66)


Mời xem thêm videoclip

Lá thư của người tử tội

Bạn thân mến !

Ngày mai người ta đem tôi ra pháp trường. Trước lúc chịu nhiều cực hình và chịu chết một cách ô nhục, tôi muốn gởi đến bạn đôi dòng tâm sự.

Tôi sinh vào đời trong làng quê nghèo bé nhỏ. Cha Mẹ tôi lam lũ nuôi tôi khôn lớn. Tuổi thơ tôi cũng trải qua trên những trang giấy học trò. Giấc mơ thần tiên cũng có ông Bụt cô Tiên cô Tấm. Hơi thở của tôi cũng ngọt mặn phù sa của con sông quê nhà. Tôi là con người bình dị với những hạnh phúc phận người và ngang trái phận nhân sinh. Thế nhưng, có một điều mà có lẽ bạn phải khám phá suốt cả đời mình để nhận ra chính tôi. Tôi là Hằng Hữu và là Tự Hữu, là Alpha và Ômêga, khởi Thuỷ và tận cùng. Chính Cha đã sai tôi đến trong trần gian này là để đem lại cho bạn sự sống đời đời. Nếu đọc lại cuộc đời của tôi mà những người học trò đã ghi lại bạn sẽ biết tôi là ai. Hơn ba mươi năm có mặt cùng bạn trên cuộc đời này, với gần ba năm áo dặm đường dài, vai trĩu nặng gánh phong trần. Tôi đã cứu chữa biết bao người thoát khỏi những cơn bệnh hay hoàn cảnh hiểm nghèo, những người lý ra phải biết ơn tôi thì nay lại quay lưng phản bội. Tôi đã làm theo ý Đấng đã sai Tôi. Người là Cha của bạn và của mọi người. Người đã thể hiện Bản tính của mình trong người Con Một dấu yêu. Người Con ấy chính là Tôi, kẻ mà loài người lên án chết trên Thập Tự Giá.

Bản án dành cho tôi là bất công, nhưng tôi vui lòng đón nhận vì đó là ý Đấng đã sai tôi. Hơn nữa máu của tôi đổ ra là nguồn ơn cứu thoát cho bạn và cho những ai tin vào tôi. Tôi chết rồi bạn hãy đọc lấy nhật ký cuộc đời của tôi. Từng ngày và mãi mãi, tôi sẽ ở cùng bạn và không bỏ rơi bạn bao giờ.

Ký tên
Giêsu Nazareth
LM Giacôbê Tạ Chúc
(nguồn : thanhlinh.net)


Thứ Bảy, 9 tháng 4, 2011

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT 5 MÙA CHAY NĂM A (Ga 11, 1-45)


Mời xem videoclip

ĐƯỜNG LÊN TRỜI

Bệnh tật, cái chết luôn là mối đe dọa lớn nhất giáng trên nỗi sợ hãi của con người. Nếu nói vạn vật đều được sinh ra trên cõi đời này thì không thể phủ nhận bất kỳ tạo vật nào cũng muốn trường sinh, do đó nhu cầu bảo tồn sự sống được coi là nhu cầu lớn nhất của vũ trụ. Chả vậy mà mọi loài cứ hoài xâu xé nhau, tranh giành sự sống. Nhìn lại lịch sử nhân loại, con người vất vả bao nhiêu để đi tìm cho bằng được phương thuốc trường sinh bất tử, thế nhưng ngoài Thiên Chúa, thế giới có thể làm được gì để muôn loài bất diệt? Quả thật, danh vọng, giàu sang, tiền tài, địa vị, quyền lực… có lớn lao thế nào đi nữa thì cũng phải đối diện với cái chết. Tội lỗi giết chết linh hồn con người, sự chết cướp đi thân xác họ. Hai cái chết trong một thực thể, cái chết nào cũng quan trọng. Chẳng vậy mà dân gian thường khuyên bảo hay khuyến cáo nhau: hãy chết trước khi chết hay những kẻ chết… ngay khi còn đang sống.

Buồn là như vậy đó, hình như ý thức sự chết thế nào rồi cũng sẽ đến, không buông tha cho bất kỳ ai, nên số đông nhân loại chạy theo lối sống hưởng thụ, sống cuồng, sống vội kẻo sự chết đến vào lúc ta không ngờ vào giờ ta không biết, chưa thỏa mãn hưởng thụ có phải là uổng phí một đời. Chưa bao giờ chủ nghĩa thực dụng chiếm hữu con người nhiều như hiện tại. Thế giới càng văn minh, nhu cầu hưởng thụ càng lớn. Cái tâm thức đáng chết ấy ngày càng lún sâu vào não trạng nhân loại, người ta đua nhau làm những chuyện phi đồi hầu đạt được thõa mãn dục vọng.

Số đông còn lại sống theo thái độ bàng quan, mặc thế thời xoay chuyển, định luật xoay vần, họ chỉ sống và muốn sống thu tích cho đầy hố tham vọng, mặc ngày sau ra sao thì ra, không quan tâm, chằng màng biết đến. Cái thái độ sống như thể chẳng bao giờ phải chết ngày càng nhân rộng. Cứ thế, họ kèn cựa, tranh giành hơn thiệt từng chút từng ly, tiền của, danh vọng là tất cả, bất chấp nhân phẩm, tính mạng. Nực cười, những con người với thái độ sống đáng sợ như thế lại tự cho đúng đắn, hợp thời, văn minh vì chạy kịp đà tiến nhân loại.

Như vậy, con người đâu có sợ chết, đúng hơn họ không sợ hậu vận. Tưởng rằng chết là hết, nếu chết là hết thì tại sao những ngày ngắn ngủi nay còn mai mất trên trần gian không lo hưởng thụ cho thỏa thích, sợ chết phải làm ma đói. Mặc dầu biết chết là hết, vẫn nghiễm nhiên hưởng thụ, ganh đua, kẻo thiệt với đời. Có thể nói, con người thời đại không sợ chết, coi thường cái chết, bất chấp sự chết… cái chết của một lương tâm trong sáng. Lương tâm nhân loại đã bị bào mòn, chai cứng, tha hóa bởi môi trường, hoàn cảnh sống. Cuộc sống ngày càng văn minh, tất nhiên cái khó khăn làm nên cuộc sống càng lớn, không biết có phải vì vậy mà nhân loại buông xuôi theo làn xoáy thời đại, lơi lỏng chuẩn mực xã hội, sống vô độ, tự mình đi vào ngõ cụt dẫn đến diệt vong.

Như vậy, song song với những cái chết thể lý, sự ra đi tất yếu của con người, thì cái chết tâm linh đang trên đà báo động. Người ta chết ngay khi còn đang sống là như vậy đó, chết vì tham danh vọng bạc tiền mà bán rẻ lương tri, nhân phẩm. Hiếm thấy ai biết sống như thể ngày mai không còn sống nữa, để có một cuộc sống đẹp.

Thật ra, nhân loại tham sống bất tử không phải vì muốn được hạnh phúc trong niềm vui bình an công chính, mà cũng chỉ vì tham sống sợ chết, lo mất đi cái thế giới vật chất đầy lôi cuốn, hấp dẫn nên họ cuống cuồng lao vào vòng xoáy tham vọng. Để có được sự sống bất diệt, nhất thiết phải sống với thái độ siêu thoát, không nô lệ bạc tiền, danh vọng, càng bám vào nó, càng bị tiêu diệt. Người ta sống công chính, thì cho dù cái chết thể xác có mang họ ra khỏi thế giới này, họ cũng sẽ sống mãi, không bao giờ chết. Có những cái chết trường sinh, nghĩa là sống mãi không bao giờ chết trong lòng người vậy. Nếu từ thuở tạo dựng, con người đã khao khát sống trường sinh, vì không muốn đối diện với cái chết thì lẽ ra phải biết sống tốt để được sống mãi chứ. Ngược lại, nhu cầu muốn được sống mãi càng cao thì nhu cầu bám víu vật chất càng lớn. Tin vào Thượng Đế để được sống bất diệt mà phải đánh mất tự do, hưởng thụ khiến con người chao đảo, buông xuôi, bỏ cuộc. Nếu việc đón nhận cái chết là nỗi đe dọa khinh hoàng đối với nhân loại thì việc giết chết lương tri nhân phẩm lại là một hồi chuông cảnh báo ghê sợ. Văn minh khoa học ngày càng tiến bộ, thỏa đáp nhu cầu bảo tồn sự sống nhưng càng cứu sống con người trên phương diện thể xác bao nhiêu thì càng giết lần giết mòn lương tri bấy nhiêu. Chỉ vỉ lợi nhuận, người ta đã phát minh ra không biết bao nhiêu là phương tiện bo đắp thân xác, bỏ qua giá trị nhân văn, giữ gìn thuần phong mĩ tục. Ladarô, như bao người, cũng đến lúc anh phải bỏ lại người thân để ra đi, trả lại thân xác vào lòng đất - nơi nó được phát xuất ra, còn linh hồn trở về với Đấng Tạo Thành. Dù muốn dù không, đã là tạo vật, không ai tránh khỏi điều đáng sợ ấy. Nhưng sự thật, đó không hoàn toàn là điều dữ, mà đúng hơn là một sự kết thúc tốt lành, để được về với sự thật đời mình. Con người thật ra đâu phải thuộc thế gian này, mà thuộc về nơi không còn đau khổ, mất mát, tội lỗi hay sự chết. Nếu trần gian không cho con người hạnh phúc, thì tại sao nhân loại cứ bám mãi vào đó như một loài tầm gửi, không thể tự mình vươn lên tìm đến lẽ sống. Nếu ra đi, là để được hạnh phúc trường sinh, thì tại sao con người sợ chết. Nếu nói ai chả muốn sống mãi, thì tại sao việc về trời để được sống viên mãn trong tình yêu cứu độ lại khiến con người hoảng sợ, luyến tiếc? Hình như cái sống vật chất chiếm hữu tâm tưởng con người hơn nhiều so với cái sống tâm linh. Có lẽ nó thuộc về một thế giới mơ hồ, trừu tượng. Do vậy, càng bám vào trần thế, con người càng chìm sâu trong cái chết bất tận.

Chết mà được trường sinh, đó là cái chết bất tử, cái chết để được sống mãi. Sống mà bán rẻ lương tri, là chết trước thời hạn, chết ngay khi còn đang sống. Sống hay chết không thuộc quyền tự do chọn lựa của con người mà thuộc về Đấng làm chủ nó. Có ai chọn cho mình ngày sinh ra cũng như lúc mất đi, nhưng làm cho mình sống hay chết lại hoàn toàn tùy thuộc vào quyết định từng cá vị.

Lạy Chúa, ngay từ hồi bé xíu, con đã ý thức về cái chết. Có nhiều thứ trên đời khiến con lo sợ nhưng vẫn không sợ gì hơn sự chết. Sự chết cướp đi của con tất cả: cuộc sống, người con yêu thương. Thế nhưng, khi ý thức rõ rệt về cội nguồn, nhất là khi đối diện với bất toàn cuộc sống, con chỉ muốn được sống mãi ở nơi không còn sự dữ, khổ đau, mất mát. Bao lần chứng kiến người thân ra đi, con đã khóc đến cạn kiệt lòng, nào phải luyến tiếc sự sống mà là như mất đi chính thân thể mình vậy. Con cũng chẳng hiều nổi, những điều con lo sợ, nhút nhát, trốn tránh trước đây, thì bây giờ chính con chọn lựa lại. Có lẽ con đã sai, con lầm tưởng lối lên trời duy nhất, để rồi bỏ qua con đường từ đất. Con quên mất Ngài cũng đã bỏ trời xuống đất vì con. Có ai lên trời mà không từ đất bao giờ, nơi họ được sinh ra và phải mất đi. Xin cho con niềm tin, lòng can đảm cùng người con yêu thương với Chúa bước hết đoạn đường nối đất với trời, dẫu có phải mất đi tất cả cũng cam…


M. Hoàng Thị Thùy Trang.
(nguồn : thanhlinh.net)

Thứ Bảy, 2 tháng 4, 2011

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT 4 MÙA CHAY NĂM A (Ga 9, 1-41)


Mời xem videoclip

CÔ GÁI MÙ

Có thể nói không phải dễ dàng sáng tạo, làm gì cũng phải tốn hao công sức, tài nguyên, trí tuệ. Nếu làm lụng khó thế thì làm người khó hơn gấp bội. Làm người xứng với tên gọi con người là cả một hành trình đòi hỏi phải rèn luyện, chiến đấu… Làm người khó cho nên hạnh phúc duy nhất trên cõi đời này chính là được làm người.

Thực ra, ngay từ tạo dựng, Thiên Chúa đã phú bẩm cho con người mọi phẩm tính của Ngài: lý trí, ý chí, tình cảm, tự do cùng lương tâm biết làm lành lánh dữ. Trao cho con người làm chủ thiên nhiên vũ trụ, Thiên Chúa không bỏ mặc con người, để tự họ lây lất với cuộc sống mà hơn hẳn vậy, Ngài từng bước chăm sóc thương yêu. Cái khó hệ tại việc làm thế nào để thế giới nhận ra sự hiện diện quyền năng yêu thương đó mà thôi.

Làm người khó không phải vì Đấng Tạo Thành làm khiếm khuyết mà chính vì bản thân nhân loại tự làm khó nhau, buộc trên nhau những gánh nặng lề luật rồi sát hại nhau chỉ vì nó. Chuẩn mực xã hội chỉ là những qui định chung con người đặt ra nhằm bảo vệ, xây dựng lợi ích chung chứ không phải con người sinh ra để phục vụ lệ luật. Tự do Thiên Chúa ban là giúp con người trưởng thành, có trách nhiệm với cuộc đời, xã hội, con người lại lạm dụng tự do mặc nhiên đoán xét, khinh miệt, loại trừ kẻ khác.

Cùng làm người, chung phận kiếp con người nhưng hiếm thấy kẻ biết yêu quí đồng loại. Chứng kiến người xấu số, kém may mắn thay vì cảm ơn cuộc đời đã cho mình diễm phúc hầu biết sống xứng đáng với những gì đã lãnh nhận, tránh lối sống hưởng thụ vô trách nhiệm, con người lại quay ra dè bỉu lẫn nhau. Thấy tai ương, sự dữ xảy ra cho người khác thay vì trắc ẩn trước nỗi đau mất mát thì lại chê bôi, đoán xét, cho sự việc ấy diễn ra là do trời phạt, làm ác nên đương nhiên phải lãnh nhận hậu quả. Thật ra, Thiên Chúa đâu có tạo nên sự dữ, Ngài tạo thế giới đầy tốt lành. Bệnh tật, sự chết là do tội lỗi gây nên. Thiên Chúa quyền năng làm được mọi sự, Ngài phán một lời tức thì không trở thành có, có thành không. Ngài lựa chọn con đường đau khổ, thập giá để dạy nhân loại biết tìm ra ý nghĩa cuộc sống từ những khổ đau, không nhìn thấy thử thách gian nan, mất mát mà chùn bước. Ngược lại, tự rèn luyện vươn lên, vượt thắng chính mình, bằng lòng với những gì mình có, chấp nhận sự thật về mình và cố gắng hoàn thiện cuộc sống.

Cuộc đời luôn có thăng trầm, không lấy đó mà e ngại, không nhìn vào giới hạn, khiếm khuyết mà bi quan, trái lại hãy khẳng định chính mình bằng tinh thần lạc quan, kiên nghị. Không có cánh cửa khép chặt cho bất kỳ ai, chỉ có những con người hèn nhát, buông xuôi không dám đối diện cuộc sống mới bi quan, tự kỉ. Cho dù bạn là ai, bất kỳ bạn như thế nào hãy luôn nhớ có Thiên Chúa yêu thương, lấy đó làm đủ mà kiên vững giữa đời. Thiên Chúa quan phòng, Ngài từng giờ giữ gìn, chăm sóc, chỉ tội nhân loại mù không biết, mãi loay hoay với cái ách nặng nề của cơm áo gạo tiền, tham mê danh vọng, bỏ qua lòng nhân hậu và sự hiện diện của Thiên Chúa.

Người giàu nhìn thấy kẻ nghèo mà thương cảm cũng vui, đàng này mặc sức hưởng thụ, không cần biết đến nỗi thống khổ của người nghèo đói, bệnh tật. Kẻ khỏe mạnh mặc nhiên phung phá, cười nhạo trên khiếm khuyết đồng loại. Có phải nghèo đói, bệnh tật là bất hạnh? Người sống không Thiên Chúa, không biết đến tình yêu thương của Ngài mới là kẻ bất hạnh. Cậy dựa vào sức mạnh tiền của, địa vị, quyền lực, nhân loại khinh thường kẻ yếu thế. Thiên Chúa cho mưa xuống trên người lành kẻ ác, thiện dữ cùng hưởng chung một bầu khí quyển, cùng hít thở nguồn không khí trong lành, sao có thể nhẫn tâm loại bỏ nhau, trong khi thế giới không là của riêng ai.

Câu chuyện anh mù bẩm sinh cũng chính là đề tài muôn thuở của nhân loại. Nhìn thấy kẻ tật nguyền nhân loại tự cho mình đáng được hưởng, người xấu số do bởi chính họ, cha mẹ hay dòng họ. Nào có phải chính ai, trong khi con người khác gì nhau, có ai là thần thánh, không phải tạo vật, sao có thể khinh miệt kẻ kém may mắn hơn mình? Thiên Chúa xử ác với ai bao giờ? Con người phạm tội, lạm dụng tình thương của Ngài còn đổ cho Ngài mọi trách nhiệm. Bất toàn đều xuất phát từ tham vọng, tự nhân loại làm khổ mình, khổ nhau. Cuộc sống đều sẽ qua đi, quan trọng là tin vào quyền năng Thiên Chúa.

Đáng sợ, não trạng thế giới đương đại gán cho Thiên Chúa là tác giả sự dữ, mà sự thật con người mới là nguyên nhân. Đức Giêsu khẳng định cách minh bạch sự việc người mù bẩm sinh, mù không phải vì anh phạm tội cũng chẳng phải vì cha mẹ ăn ở không đức, mà là để quyền năng Thiên Chúa được tỏ hiện
(x. Ga 9,3). Thiên Chúa làm được tất cả, những phép lạ nhãn tiền Ngài thực hiện trong lịch sử để con người nhận biết mà gia tăng lòng tin. Thế nhưng, oái ăm thay, người mù - kẻ mà nhân loại xếp vào hàng tội lỗi, con người kém may mắn, bất hạnh, lại đón nhận được ơn cứu độ. Chính vì anh đã cảm nhận chân thực sự hiện diện yêu thương, uy quyền của Thiên Chúa. Khiếm khuyết thể xác nhưng tinh thần anh hoàn toàn minh mẫn, niềm tin thực thụ tinh ròng. Đáng tiếc những kẻ đầu cao mắt sáng nhưng đui mù trước sự hiện diện linh thánh. Người mù được sáng, kẻ sáng lại trở nên đui mù là vậy. Khiếm khuyết, bất toàn thân xác không phải là yếu tố quyết định phúc họa con người mà chính là thế giới nội tâm, linh hồn thuộc trọn Thiên Chúa và quy hướng về Ngài mới là yếu tố thiết thực làm nên phúc họa nhân loại.

Thời đại phụ thuộc quá nhiều vào luật lệ, những chuẩn mực lề thói cứng nhắc nhằm tiêu diệt lẫn nhau. Ràng buộc níu kéo, tự chất lên vai nhau thập giá nhân tạo, quên đi việc thánh hóa bất toàn cuộc sống thành phương thuốc bổ dưỡng tâm linh. Nào biết ai họa ai phúc, kẻ may mắn, kẻ bất hạnh? Giá trị vật chất không là thước đo phúc lộc mai hậu, niềm tin, lòng mến mới là nhân tố quyết định.

Đáng tiếc, kẻ mù lại không biết mình đang mù, kẻ đang lao xuống hố mà không biết mình lao xuống hố, cứ nhất nhất bảo vệ quan điểm, lối sống ích kỉ, loại bỏ Thiên Chúa và đường lối Ngài ra bên lề cuộc sống. Tự do hưởng thụ, bất chấp phải trái, thiện ác là vấn nạn đáng báo động khi tấm màn vật chất hào nhoáng phủ dầy trên nhu cầu tham vọng của nhân loại, lại còn được bảo bọc bởi những lời tung hô chúc tụng. Càng dày tham vọng, càng mờ chân lý. Chỉ những ai biết lột bỏ cặp kính tham sân si, người ấy mới có thể để cho ánh mắt chân lý rọi chiếu.

Lạy Chúa, con không mù, cũng không hề bị khiếm khuyết, nhìn vào đó, ai cho con là người bất hạnh, kém may mắn? Thế giới có không biết bao nhiêu mảnh đời nghiệt ngã, những thân phận phải đối diện với sự khiếm khuyết khôn lường, một trong những thành phần được loại trừ như thế, con đôi lúc mang trong mình chút kiêu hãnh vì sự công chính tự tạo, nếu không muốn nói đến sự bàng quan vô cảm trước những tình cảnh thương tâm. Cười trên nỗi thống khổ của kẻ khác, điềm nhiên hưởng thụ, tự cho mình quyền được hưởng hay đáng hưởng, con trở thành kẻ nhẫn tâm vô ơn từ khi nào. Mù mà cứ ngỡ mình sáng, con đánh mất đường chân lý khi nào chẳng hay. Xin cho con được thấy, lạy Chúa, xin cho con được thấy tình yêu thương và lòng nhân hậu của Ngài, cho con niềm tin và sức mạnh, cho dù có gian nan thử thách, khổ đau hay mất mát, tai nạn hay bệnh tật cũng không làm con hoảng sợ. Xin trả cho con nguồn ánh sáng mà cuộc đời đã đánh cắp. Bao năm qua, con lầm lũi mò mẫm bước đi trong nước mắt, hãy đưa con về, chữa con khỏi mù lòa tội lỗi, dẫu có phải khóc đến mắt nên mù cũng cam...


M. Hoàng Thị Thùy Trang.
(nguồn : thanhlinh.net)

Thứ Bảy, 26 tháng 3, 2011

VIDEOCLIP LỜI CHÚA

Thưa các bạn,
Từ Chúa Nhật III Mùa Chay năm A đường link đến các VIDEOLIP LỜI CHÚA hàng tuần đã được đưa vào trang chuyên mục LỜI CHÚA. Các bạn hãy bấm chuột vào chữ LỜI CHÚA nằm ngay dưới tiêu đề của blog để vào xem.

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT 3 MÙA CHAY NĂM A (Ga 4, 5-42)


Mời xem videoclip

CHỈ CÓ CHÚA MỚI LẤP ĐẦY
KHAO KHÁT CỦA CON NGƯỜI


Có đi cả ngày trời trong sa mạc khô cháy, trên đầu là nắng lửa, dưới chân là cát nung như đoàn dân Do Thái ngày xưa trong hoang địa mới cảm nhận được cái khát hành hạ người ta đến độ nào và nhu cầu được uống cho đã khát mới bức xúc làm sao. Thế nên khi bị cơn khát dày vò, họ đổ lỗi cho Mô-sê đã đưa họ vào nơi hoang địa khô cháy và đòi đem vị lãnh tụ nầy ra mà ném đá.
(bài đọc I, sách Xuất Hành 17, 3-7)

Thế nhưng ngoài cơn khát tự nhiên là khát nước, con người luôn có những khao khát mà không có gì trên thế gian có thể làm cho no thoả. Người ta gọi đây là khát vọng vô biên. Đây là cơn khát về mặt tâm linh nên chẳng có thứ nước nào trên đời có thể làm dịu bớt.

Người phụ nữ xứ Samari trong Tin Mừng hôm nay
(Ga 4, 5-42) cũng đã từng trải qua cơn khát tương tự. Chị đã mưu tìm hạnh phúc qua năm đời chồng rồi nhưng lại phải lần lượt chia tay với cả năm người đó, để tìm hạnh phúc với người thứ sáu. Rốt cuộc chẳng ai trong họ có thể đem lại cho chị hạnh phúc thực sự trong cuộc đời. Chị đi tìm hạnh phúc cũng y như đi lấy nước. Ngày nào cũng phải lặn lội tìm đến giếng nước xa, múc cho đầy vò rồi ngày hôm sau lại khát và tiếp tục đội vò đi tiếp.

Chính vì thế nên Chúa Giêsu khẳng định với người phụ nữ Samari: “Ai uống nước này sẽ còn khát lại.” Qua đó, Chúa Giêsu muốn nói không gì trên đời có thể đáp ứng khát vọng của con người.

Ông Arthur Schopenhauer (1788-1860), một triết gia người Đức cho rằng “những lạc thú mà thế gian cống hiến cho con người cũng chỉ như nắm cơm bố thí cho người hành khất, chỉ làm dịu cơn đói hôm nay, rồi ngày mai lại đói”.

Cha Anthony de Mello cũng nhận định tương tự: “Việc thoả mãn dục vọng không giải thoát chúng ta khỏi dục vọng, nhưng tạo thêm một dục vọng khác còn mãnh liệt hơn để rồi cái vòng lẩn quẩn: khát khao - thoả mãn, thoả mãn - khát khao… cứ tiếp diễn mãi không cùng”, càng về sau lại càng tăng “đô” hơn. Và cứ thế, người ta phải chịu dày vò, thiêu đốt vì ngọn lửa khao khát trong lòng mình.

* * *
Qua Tin Mừng hôm nay, Chúa Giêsu chỉ cho người phụ nữ Samari cũng như cho chúng ta một Nguồn Suối mang lại hạnh phúc: “Ai uống nước này sẽ lại khát, còn ai uống nước Tôi cho, sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước Tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời" (Ga 4, 13-14). Chúa Giê-su chính là Mạch Nước đó.

* * *
Xưa kia, Augustinô là người mải mê tìm kiếm lạc thú trần gian suốt nhiều năm trường nhưng không gì trên thế gian có thể lấp đầy trái tim khao khát của ngài. Mãi đến tuổi 33, nhờ ơn soi sáng và lời nguyện cầu liên lỉ của người mẹ thánh thiện là Mônica, Augustinô mới khám phá Thiên Chúa là Nguồn Suối đáp ứng khát vọng của ngài và đem lại niềm hoan lạc vô biên. Bấy giờ lòng đầy hoan lạc, Augustinô thưa với Chúa: “Lạy Chúa, Chúa đã dựng nên con cho Chúa, vì thế hồn con mãi thổn thức khôn nguôi, cho đến khi được nghỉ yên trong Ngài”.

Chỉ trong Thiên Chúa, khát vọng của Augustinô mới được lấp đầy. Quả đúng như Lời Chúa Giê-su nói: “Ai uống nước nầy sẽ còn khát lại, còn ai uống nước Tôi cho sẽ không bao giờ khát nữa. Và nước Tôi cho sẽ trở thành nơi người ấy một mạch nước vọt lên, đem lại sự sống đời đời”
(Ga 4, 13-14).

* * *
Lạy Chúa Giêsu, còn rất nhiều người đang khát Chúa mà vẫn chưa tìm thấy Chúa là Nguồn Nước mang lại hoan lạc và no thỏa cho tâm hồn. Xin cho họ được nhận biết Chúa chính là Nguồn Suối mà họ hằng khát khao.

Xin cho chúng con, như người phụ nữ Samaria xưa, sau khi gặp được Chúa là Nguồn Nước Trường Sinh, thì cũng mau mắn giới thiệu cho mọi người đến gặp Chúa, để họ cũng được no thoả nơi Chúa là Mạch Suối mang lại sự sống đời đời.

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà
(nguồn : thanhlinh.net)

Thứ Sáu, 18 tháng 3, 2011

HIỆP THÔNG

HIỆP THÔNG

Anh chị em ca đoàn thân mến,
Ban Điều Hành mới nhận được tin :

Bà TÊRÊSA
ĐÀO THỊ NGỌC ANH

Sinh năm 1932


Nhạc mẫu
Anh Gioan Baotixita Nguyễn Thế Lương

đã an nghỉ trong Chúa lúc 05 giờ 45,
ngày Thứ Năm 17.3.2011,
tại tư gia : 111 đường Bạch Đằng, Phường 25,
Quận Bình Thạnh, Thành Phố Hồ Chí Minh
hưởng thọ 79 tuổi.

Nghi thức tẩn liệm
lúc 08 giờ 00 ngày Thứ Sáu 18.3.2011.

Thánh lễ cầu hồn tại gia :
  • Sau Nghi thức tẩn liệm
  • và lúc 19 giờ 00 ngày Thứ Sáu 18.3.2011.
Thánh lễ an táng tại Nhà thờ Giáo xứ Hàng Sanh,
Giáo Hạt Gia Định, Giáo Phận Saigon,
lúc 05 giờ 00, ngày Thứ Hai 21.3.2011.

Sau đó mai táng tại nghĩa trang Giáo xứ Búng,
Thuận An, Bình Dương.

Xin anh chị em hiệp ý cầu nguyện cho linh hồn TÊRÊSA sớm được hưởng Nhan Thánh Chúa.

Ban Điều Hành
Ca Đoàn Cécilia
Giáo Xứ Thuận Phát
Kính Báo