Thứ Bảy, 29 tháng 9, 2012

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT 26 THƯỜNG NIÊN NĂM B (Mc 9, 38-43.45.47-48)



THUẬN HAY CHỐNG

Antôn Lê Ngọc Sinh Nhật
Bài Tin Mừng hôm nay cho biết câu chuyện xảy ra trong khung cảnh truyền giáo của các Tông đồ và có thể cuộc sống của cộng đoàn tín hữu Thánh Marcô.

Bối cảnh xảy ra đó là sau khi các Tông đồ đi truyền giáo : rao giảng, trừ quỷ, chữa bệnh nhân danh Chúa Giêsu. Các Ngài đã thấy có người không thuộc nhóm Tông đồ của Chúa Giêsu mà dám kêu danh Ngài để trừ quỷ. Các Tông đồ đã ngăn cấm và Thánh Gioan còn trình bày sự việc này cho Chúa Giêsu phân xử. Chúa đã trả lời ông: “Ðừng ngăn cấm họ, vì không ai nhân danh Thầy làm phép lạ rồi sau đó lại có thể nói xấu Thầy. Vì ai không chống lại Ta là ủng hộ Ta”.

Theo các Tông đồ thì quyền trừ quỷ, quyền ban ơn, quyền rao giảng chỉ dành cho những môn đệ được Chúa gọi rõ ràng, người khác không có quyền đó. Nhưng ơn Chúa không bao giờ bị hạn chế, không dành đặc quyền cho người nào, nhóm nào cả. Bất cứ ai tin tưởng và cầu xin, hoặc kêu cầu danh Chúa để làm việc tốt, Chúa đều nhậm lời. Chúa Giêsu còn mở rộng thêm: ngay cả những người yên lặng, kẻ không chống đối đạo Chúa, cũng phải xem họ như những cảm tình viên, như những người thuận với mình.

Nếu ai ra mặt ủng hộ sứ mạng truyền giáo, dầu bằng một việc cỏn con như cho nhà truyền giáo, dầu một bát nước, kẻ đó không mất phần thưởng đâu. Còn kẻ nào nên cớ vấp phạm cho một trong những kẻ bé nhỏ đã tin này thì thà cột cối đá dìm xuống biển còn hơn. Lý do dễ hiểu vì người mới trở lại, Ðức tin còn non nớt giống như mầm non mới mọc đang cần bám đất màu mỡ là gương lành, gương tốt của người tín hữu, của công đoàn giúp phát triển, thế mà người Kitô hữu tạo ra gương mờ, gương xấu làm họ sa ngã hoặc không còn tin tưởng vào đạo Chúa nữa. Như câu chuyện về nhà ái quốc Ghandi chẳng hạn (chuyện Ghandi vào nhà thờ).

Ngày nay cũng có thể xảy ra. Một người tìm đạo, thấy người công giáo sống xấu quá, họ không cần tìm hiểu đạo nữa. Một người mới gia nhập đạo bị người có đạo lôi cuốn họ vào con đường tội lỗi (tội ác). Một bạn học cùng lớp, có thiện cảm với đạo Chúa, một em có đạo gây gỗ, đánh đập bạn bè trong giờ chơi khiến bạn đó thấy người Công giáo sao dữ quá, không dám học đạo…

Tội làm gương xấu cản trở việc truyền giáo là tội hết sức lớn, Chúa ra lệnh phải trừ tận gốc rễ, trừ tuyệt, trừ hoàn toàn. Tin Mừng ghi lại những lời quyết liệt sau: “Nếu tay người làm ngươi vấp phạm thì chặt phăng đi, nếu chân người làm dịp tội cho ngươi thì chặt bỏ đi, nếu mắt ngươi làm ngươi vấp phạm thì móc vất đi vì thà mất tay, mất chân, chột mắt mà vào nước Thiên Chúa còn hơn có hai tay, hai chân, hai mắt mà vào hỏa ngục”. Ở đây, Chúa dạy ta theo nghĩa bóng chứ không theo nghĩa đen, vì có kẻ thì bỏ beer, bỏ gái, bỏ thuốc lá rồi chặt ngón tay, ngón chân xin thề mà vẫn không chừa. Nghĩa bóng ở đây dạy phải từ bỏ ngay, từ bỏ hẳn mọi gương xấu, không được chần chừ, không được khất lần khất lựa, vì đó là cớ làm ta mất lòng Chúa và bị đày trong hoả ngục.

(tinmung.net)


Lời Chúa dạy trong bài Tin mừng hôm nay còn nóng hổi trong Giáo Hội, trong Giáo xứ, trong cộng đoàn và nơi mỗi người chúng ta. Chúng ta thường cho mình độc quyền về chức vụ, về ơn Chúa để ganh tỵ với người khác, lên án người không hợp ý mình. Nhưng còn lối sống của chúng ta, sống bê bối, đối xử bất công với người khác (có đạo cũng như không có đạo) khiến họ sợ hãi khi nghe đến tôn giáo. Qua bài Tin mừng hôm nay xin cho mọi người trong chúng ta ý thức hơn về chức vụ Tông đồ của mỗi người chúng ta.

Chủ Nhật, 23 tháng 9, 2012

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT 25 THƯỜNG NIÊN NĂM B (Mc 9, 30-37)



PHỤC VỤ KHIÊM TỐN

Lm Raphael Xuân Nguyên
Mang thân phận con người, không ít thì nhiều, chúng ta cũng thường hay đo các giá trị hoặc đánh giá người khác dựa trên những vẻ bề ngoài hơn là thực chất trong tâm hồn, nhất là những giá trị đích thực của họ trước mặt Thiên Chúa. Không lạ gì khi các môn đệ Chúa Giêsu mới chỉ vỏn vẹn có mười hai người, mà cũng tranh luận xem ai sẽ là người làm lớn nhất trong họ. Chắc chắn các đánh giá về con người của các ông khác xa với điều Chúa Giêsu truyền dạy, nên Người đã tụ họp cả mười hai vị lại và phán: Ai muốn làm lớn nhất, thì hãy tự làm người rốt hết và làm đầy tớ mọi người.'' Mức thang giá trị mà Chúa Giêsu đưa ra để đánh giá một người lãnh đạo: đó là sự khiêm tốn phục vụ anh chị em mình như người đầy tớ.

Thoáng lướt qua nguyên tắc này, chúng ta cảm nhận dễ dàng trong lời nói; nhưng nếu đem áp dụng vào thực tế cuộc sống trong tiến trình phục vụ thực sự một cách khiêm tốn thì không phải dễ. Nguyên việc phục vụ anh chị em mình mà thôi thì đã tốt lắm. Tuy nhiên nguyên nhân và động lực của việc phục vụ trong tâm thức của con người có thể đổi thay tuỳ theo tâm trạng và mục đích của họ. Có người thích phục vụ vì bản tính tự nhiên; có người thích phục vụ vì muốn được tha nhân để ý, nhất là trước đám đông hay tập thể; có người thích phục vụ vì muốn có quyền lợi và danh dự hơn người; lại có người muốn phục vụ để lợi dụng người khác đạt đến mục tiêu của riêng mình,vv... Nguyên tắc của Chúa Giêsu muốn làm lớn thì hãy tự làm người rốt hết'' trực tiếp nhấn mạnh đến việc phục vụ trong khiêm tốn. Bản chất của nguyên tắc này tự nó xóa đi cái ý định 'làm lớn' của người phục vụ. Làm người rốt hết là để có thể phục vụ hết mọi người một cách hiệu qủa. Sự phục vụ ấy xóa đi khoảng cách và mặc cảm giữa tha nhân và chính mình. Làm kẻ rốt hết để phục vụ cũng nói lên ý chí từ bỏ chính mình để làm theo ý và lợi ích của tha nhân. Nó hình như xóa hết cái tôi của kẻ phục vụ. Điều này rất đúng khi Thánh Phao Lô viết cho giáo hữu ở Philipphê về thân phận tôi tớ của Đức Kitô trong việc phục vu: Chúa Kitô vì chúng ta đã tự hạ mình, vâng lời cho đến nỗi bằng lòng chịu chết, chết trên cây thập tự. (Phi 2:8-9)

Như thế, việc phục vụ tha nhân trong khiêm tốn như Chúa dạy đòi hỏi con người phải thực sự từ bỏ chính mình; nó cũng đồng nghĩa với việc đóng đinh mình vào thập giá. Từ bỏ cái tôi và nhân cách trong việc phục vụ không có nghĩa nhục mạ nhân phẩm, nhưng chính là bước vào con đường cứu độ của thập gía Đức Kitô.   

(tinmung.net)

Chủ Nhật, 16 tháng 9, 2012

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT 24 THƯỜNG NIÊN NĂM B (Mc 8, 27-35)



CHÚA NHẬT 24 THƯỜNG NIÊN B

Nếu có dịp theo dõi các game shows trên đài truyền hình, cách riêng là chương trình “Nốt nhạc xanh”, có lẽ chúng ta cũng thầm cảm phục các thí sinh tham dự cuộc thi. Chỉ cần vài ba note nhạc. Thậm chí chỉ cần một note nhạc vang lên, cùng với một vài gợi ý là họ có thể nói chính xác tên và tác giả của bài hát. Và không chỉ trong lãnh vực âm nhạc, nhiều người trong chúng ta còn biết rất nhiều thứ: nào là giá cả hàng hóa trên thị trường, nào là tên của các minh tinh điện ảnh, nào là tên của các siêu sao bóng đá nước ngoài (với những cái tên hoàn toàn xa lạ)… ví dụ nếu nói “ngon từ thịt, ngọt từ xương” chúng ta biết ngay đó là bọt nêm Knorr. Nếu được hỏi ngôi sao nào đóng phim võ thuật hay nhất, có lẽ chúng ta sẽ trả lời ngay rằng đó là Lý Tiểu Long, nếu được hỏi ai là Vua bóng đá chúng ta sẽ không bỏ lỡ cơ hội trả lời đó là Pêlê… Sở dĩ chúng ta có được những câu trả lời nhanh và chính xác như thế, vì đó là những điều chúng ta đang quan tâm. Thế nhưng, nếu ngay bây giờ có ai đó đột nhiên hỏi chúng ta: “Đức Kitô là ai vậy? “Chúa Giêsu là ai vậy?”, thì không biết chúng ta sẽ trả lời như thế nào?


Cách đây hơn 2000 năm. Lúc đó, sau một thời gian rao giảng, Đức Giêsu cùng các môn đệ đến miền Cêsarê – Philípphê, thuộc miền Đông Bắc nước Do thái, tại đây, Chúa Giêsu đã hỏi các môn đệ: “Người ta bảo Thầy là ai?”. Trước mắt của dân chúng thời bấy giờ, Chúa Giêsu tuy là một con người đặc biệt, nhưng cũng chỉ là một vị ngôn sứ, cùng lắm là một vị đại ngôn sứ như Giêrêmia, Êlia hoặc Gioan Tẩy Giả, hay nói cho cùng, Ngài cũng chỉ là một con người đến dọn đường cho Đấng Messia mà thôi. Trong bối cảnh đó, chúng ta mới thấy câu trả lời: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống” của Nhóm Mười Hai mà Phêrô đại diện thưa lên là một câu trả lời mang tính đột phá. Bởi, khi tuyên xưng: “Thầy là Đức Kitô”, nghĩa là các ông chấp nhận chàng thanh niên thợ mộc miền Nazareth, con ông Giuse và bà Maria, có tên là Giêsu, đang sống giữa các ông, thực sự là Đấng Messia mà Thiên Chúa đã hứa ban. Lời tuyên xưng này đòi các tông đồ, không những phải tôn kính Đức Giêsu như một vị Thầy, mà còn phải tôn thờ Ngài như một vị Thiên Chúa. Không chỉ tuyên xưng ngoài miệng, mà là một xác tín sâu thẳm từ bên trong, hướng dẫn toàn bộ đời sống của các tông đồ. Chính câu trả lời này sẽ xoay chuyển cuộc đời của các ông sang một hướng mới. Các tông đồ, đã sẵn sàng chấp nhận mọi đau khổ, bắt bớ, giam cầm, đòn vọt để rao giảng và làm chứng về sự chết và sống lại của Đức Kitô, người Thầy và cũng là Cứu Chúa của đời họ,


Hôm nay, Chúa Giêsu cũng đặt lại câu hỏi nầy với mỗi người chúng ta. Ngài muốn chúng ta bày tỏ nhận định ta có về Ngài: “Về phần con, Thầy là ai đối với con?”(mỗi người phải tự trả lời không ai trả lời thế cho ai, cũng không có quyền trợ giúp….) chúng ta sẽ trả lời như thế nào đây???

Khi câu hỏi nầy được đặt ra với một nhóm thanh niên đang ngồi tận ngoài cổng nhà thờ sáng chúa nhật, vừa hút thuốc vừa dự lễ, thì họ trả lời qua khói thuốc: “Đối với chúng tôi, Chúa Giêsu là một vị Thẩm Phán khắt khe, hay bắt bẻ những người phạm luật. Dù chẳng yêu mến gì Ngài, nhưng vì sợ bị ghép vào tội bỏ lễ chúa nhật, nên chúng tôi miễn cưỡng đến ngồi đây dự lễ.”

Khi câu hỏi nầy được nêu ra với một số doanh nhân tất bật với việc làm ăn buôn bán, thì họ trả lời rằng: “Đối với chúng tôi, Chúa Giêsu là một ông Thần Tài. Dù chẳng yêu mến gì ổng, nhưng chúng tôi biết đối xử sòng phẳng với ổng. Nếu ổng phù hộ chúng tôi ăn nên làm ra, thì chúng tôi còn đặt ổng lên bàn thờ, có nhang đèn hẳn hoi. Nếu ổng không giúp chúng tôi phát đạt, chúng tôi mời ổng đi chỗ khác.”

Khi câu hỏi nầy được nêu lên với một nhóm người khác đang theo đuổi lạc thú, họ đáp: “Chúa Giêsu là ai ư? Thật tình chẳng mấy khi chúng tôi nghĩ đến. Điều đó chẳng đáng quan tâm. Có lẽ khi nào chúng tôi già yếu, lâm bệnh nguy kịch, hoặc gặp gian nan khốn đốn trong cuộc đời, chúng tôi sẽ tìm đến với Ngài… sẽ thành khẩn kêu cầu Ngài như những người đi biển gặp nạn cần đến tấm phao cứu sinh!”.

Thiên Chúa sẽ đau buồn biết bao khi đoàn con yêu dấu của Ngài nhận định về Ngài như thế. Khi chúng ta trả lời với Ngài như thế.

Còn nếu như chúng ta đồng ý với lời tuyên xưng của thánh Phêrô trong Tin mừng hôm nay: “Thầy là Đức Kitô, Con Thiên Chúa hằng sống”, thì chúng ta cũng hãy can đảm sống niềm tin đó như các tông đồ đã sống khi xưa.

Tuy nhiên, để sống được điều này, không phải chỉ bằng một lời nói, hay một quyết tâm là đủ, nhưng đó là một chọn lựa, một cố gắng liên lỷ, trường kỳ trong từng phút giây của cuộc sống. Chúng ta cũng phải sẵn sàng hy sinh thời giờ, sức khỏe, kể cả những thiệt thòi về vật chất. Do đó, chúng ta rất cần sự nâng đỡ của ơn Chúa. Ước gì trong thánh lễ hôm nay, không người nào trong chúng ta bỏ lỡ cơ hội được hiệp nhất với Đức Kitô trong phần hiệp lễ, để nhờ Ngài nâng đỡ, chúng ta có thể sống trọn vẹn niềm tin mà giờ đây mời cộng đoàn đứng chúng ta cùng tuyên xưng. Amen.

Lm. Paul NGUYỄN NGUYÊN 

(thanhlinh.net)

Thứ Bảy, 8 tháng 9, 2012

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT 23 THƯỜNG NIÊN NĂM B (Mc 7, 31-37)



HÃY MỞ RA
ĐTGM. Ngô Quang Kiệt
Khi ở nước ngoài, có dịp gặp những người Việt sinh sống xa quê hương xứ sở, tôi hỏi họ: "Sống ở nước ngoài, điều gì khiến ông bà buồn khổ nhất". Họ trả lời: "Khổ nhất là chúng con sống như những người điếc và ngọng. Không biết tiếng nên ngọng nghiụ, nói chẳng nên lời, thành ra không làm cho người ta hiểu được mình. Người ta nói gì mình cũng chẳng hiểu, thật y như người điếc".

Nghe và nói là hai cánh cửa. Nói là cánh cửa mở tâm hồn mình ra thông giao với thế giới bên ngoài. Có gì tích chứa trong lòng, phải nói ra thì người khác mới hiểu. Nghe là cánh cửa mở ra đón nhận thông tin từ thế giới bên ngoài. Phải nghe mới hiểu được người khác. Không nghe không nói cũng giống như đóng kín cánh cửa cảm thông. Mình không hiểu người mà người cũng không hiểu mình. Sống bên nhau mà không hiểu nhau thì thật đáng buồn và đáng sợ.

Nếu điếc và ngọng thể lý đã đáng buồn và đáng sợ, thì điếc và ngọng tâm lý còn đáng buồn và đáng sợ gấp bội.

Có nhiều thứ điếc.

Có thứ điếc vì khác biệt ngôn ngữ và văn hoá. Nghe mà không hiểu. Hoặc nghe tưởng là hiểu hoá ra lại hiểu sai. Trường hợp này còn tệ hại hơn là không nghe thấy gì.

Có thứ điếc vì định kiến. Đã có sẵn định kiến với ai, ta không muốn nghe người ấy nói nữa. Người ấy có nói hay đến đâu, ta cũng cho là dở. Người ấy có nói tốt đến đâu, ta cũng cho là xấu. Những ý kiến của người ấy không thể lọt vào tai ta. Nếu có vào thì chỉ vào những phần xấu.

Có thứ điếc vì bịt tai không muốn nghe. Đây là trường hợp của người tự làm cho mình trở thành điếc. Mất tin tưởng vào anh em. Tuyệt vọng vì cuộc sống. Tự đóng kín trong vỏ ốc của bản thân. Đoạn tuyệt với mọi người.

Sau cùng, có thứ điếc thiêng liêng không nghe được Lời Chúa. Không nghe được Lời Chúa vì thiếu học hỏi. Nhưng nhất là không nghe được Lời Chúa vì cứng lòng. Vì để nghe Lời Chúa, mở tai chưa đủ, cần phải mở lòng nữa. Bao lâu tâm hồn đóng kín, không nhậy cảm trước những lời mời gọi ăn năn sám hối, không tỉnh thức tiếp thu những lời hướng dẫn về đường lành, thì tai người ta sẽ chẳng nghe được Lời hằng sống. Bao lâu tâm hồn còn đuổi theo dục vọng, còn toan tính những điều gian dối, bấy lâu người ta vẫn còn điếc đặc trước những Lời của Thiên Chúa.

Tương tự như thế, có nhiều thứ ngọng.

Có thứ ngọng do khác biệt ngôn ngữ và văn hoá. Ta không hiểu người mà cũng chẳng thể làm cho người hiểu ta.

Có thứ ngọng do ích kỷ. Ta chỉ nói về những quan tâm, những nhu cầu, những ước vọng của ta, mà chẳng xét đến những quan tâm, những nhu cầu, những ước vọng của anh em. Nên lời ta nói chẳng lọt vào tai anh em. Lời ta nói trở nên ngọng nghịu, anh em nghe mà không hiểu.

Có thứ ngọng do sợ sệt. Vì sợ sệt, ta không dám nói lên sự thật. Những nỗi sợ mất quyền lợi, sợ mất danh dự, sợ mất lòng người khiến ta trở thành câm nín, ngọng nghịu.

Có thứ ngọng do lười biếng. Vì lười biếng, ta không nói được những lời tốt đẹp khích lệ anh em. Vì lười biếng, ta không nói được những lời an ủi người đang buồn sầu. Vì lười biếng, ta không nói được những lời chia vui với người anh em gặp may mắn. Nhất là vì lười biếng, ta không nói lên được những lời ca tụng Thiên chúa.

Những đam mê, những dục vọng, những toan tính, những ích kỷ, những lười biếng trở thành những sợi dây trói buộc lưỡi ta, làm ta trở thành câm nín, ngọng nghịu.

Có nhiều bức tường ngăn chặn làm tai ta điếc. Có nhiều sợi dây trói buộc làm cho lưỡi ta ngọng.

Hôm nay, Đức Giê-su cũng đến nói với ta: "Ephata". Hãy mở ra.

Hãy mở tai ra để lắng nghe lời anh em. Hãy mở tai ra để lắng nghe lời Chúa. Hãy phá đi bức tường định kiến. Hãy phá đi bức tường ích kỷ. Hãy phá đi bức tường tâm hồn cứng cỏi để mở rộng tâm hồn đón nhận anh em và đón nhận Lời Chúa.

Hãy mở miệng lưỡi ra để đi đến với anh em và đi đến với Chúa.. Hãy cắt đứt sợi dây ích kỷ để ta quan tâm tới nhu cầu của anh em. Hãy cắt đứt sợi dây sợ sệt để ta mạnh dạn nói những lời sự thật. Hãy cắt đứt sợi dây lười biếng để ta nói lên những lời tốt đẹp, những lời ca ngợi tình thương của Chúa.

Lạy Chúa, xin hãy chữa bệnh điếc và bệnh ngọng trong tâm hồn con. Amen.

KIỂM ĐIỂM ĐỜI SỐNG

1) Hãy kể ra những thứ ngọng và nói lý do của những thứ ngọng đó.

2) Hãy kể ra những thứ điếc và nói lý do của những thứ điếc đó.

3) Khi gặp người khác bạn thích nói hay thích nghe. Hoặc bạn không muốn nói cũng chẳng muốn nghe?

4) Lắng nghe có dễ không? Bạn có để ý lắng nghe Chúa và nghe nhau không?

5) Nói những điều tốt đẹp rất có ích lợi. Bạn đã có kinh nghiệm gì về điều này chưa?

(tinmung.net)

Chủ Nhật, 2 tháng 9, 2012

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT 22 THƯỜNG NIÊN NĂM B (Mc 7, 1-8a.14-15.21-23)



NGHI THỨC BÊN NGOÀI
Sưu tầm
Có một thầy tiến sĩ luật Do Thái bị cầm tù ở Rôma. Ông chỉ được ăn uống tối thiểu nhằm kéo dài cuộc sống. Thời gian trôi qua và ông ta yếu dần. Cuối cùng người ta phải mời một y sĩ đến khám. Y sĩ bảo rằng: cơ thể ông ta bị thiếu nước. Thế nhưng đám lính canh lại thắc mắc không hiểu vì sao vị Rabbi này lại có thể thiếu nước, vì khẩu phần nước tương đối đầy đủ.

Và thế là họ kín đáo quan sát ông ta. Cuối cùng họ đã khám phá ra lý do. Sở dĩ cơ thể ông ta thiếu nước vì ông ta đã dùng phần lớn số nước được cung cấp để rửa tay theo nghi thức tôn giáo trước khi cầu nguyện và dùng bữa.
Câu chuyện trên cho thấy các nhà lãnh đạo tôn giáo Do Thái đã bực bội như thế nào, khi các môn đệ Chúa ăn uống mà chẳng chịu rửa tay theo đúng tập tục tiền nhân.

Ngược dòng thời gian chúng ta thấy người Do Thái có hai thứ luật. Luật thành văn và luật truyền khẩu. Luật thành văn vừa cổ lại vừa quan trọng vì nó căn cứ trên những sách của Cựu ước và đôi khi còn được gọi là luật Maisen. Một số luật này mang tính cách cụ thể và đặc thù, còn lại thì rất chung chung giống như những kiểu mẫu phải theo hơn là lề luật. Trong một thời gian dài, người Do Thái bằng lòng với những kiểu mẫu này và họ áp dụng vào đời sống vì thấy nó thích hợp.

Tuy nhiên, tới thế kỷ thứ năm trước Công nguyên, một nhóm chuyên nghiên cứu về luật đã tạo được một ảnh hưởng mạnh mẽ trong dân. Họ thấy những điều luật tổng quát quá sơ sài, mơ hồ cần phải được soạn thảo lại. Từ đó phát sinh ra bộ luật thứ hai, gồm những luật truyền khẩu. Rất nhiều người Do Thái muốn bắt chước các tư tế về sự thánh thiện bên ngoài có tính cách nghi thức. Chẳng hạn: theo luật thành văn thì mọi tư tế đều phải rửa tay trước khi vào nơi thánh trong đền thờ, mục đích là tẩy rửa đi những gì ô uế để xứng đáng thờ phượng Chúa. Dần dần dân chúng cũng bắt chước rửa tay trước khi cầu nguyện và khi dùng bữa.

Vào thời Chúa Giêsu, họ tuân giữ cặn kẽ thứ luật truyền khẩu này, để rồi tôn giáo dần dần thái hóa và biến thành một hoạt động đơn thuần chỉ là chu toàn những nghi thức bên ngoài. Theo họ, tuân giữ nghi thức bên ngoài là đẹp lòng Chúa, bằng không thì phạm tội và những kẻ tuân giữ được coi là người đạo đức. Họ có thể căm ghét kẻ khác nhưng lại chẳng hề áy náy bao lâu còn tuân giữ việc rửa tay và những nghi thức khác về sự thanh tẩy.

Họ giống như một người Hồi giáo đang phi ngựa rượt theo kẻ thù, chợt nghe chuông báo giờ cầu nguyện. Thế là anh ta xuống ngựa, quì gối cầu nguyện theo luật định, rồi sau đó lên ngựa tiếp tục đuổi theo kẻ thù.

Từ đó chúng ta đi tới kết luận: đừng đồng hóa tôn giáo với việc chu toàn những hành vi bên ngoài như đi lễ, đọc kinh, xưng tội… Tự chúng chưa bảo đảm rằng chúng ta đã thánh thiện đâu. Lý do rất đơn giản là chúng ta có thể làm tất cả những việc này vì lý do không mấy ngay thẳng, hay làm không phải vì yêu thương. Điều quan trọng không phải là việc chúng ta làm mà chính là tình yêu trong trái tim thúc đẩy chúng ta làm việc đó. Nếu trái tim chất đầy kiêu căng thì mọi nghi thức bên ngoài trước mặt thế gian cũng sẽ chẳng làm cho chúng ta trở nên thánh thiện trước mặt Chúa. Bởi vì như lời Chúa đã quở trách người Do Thái: dân này thờ kính Ta ngoài môi ngoài miệng, còn lòng họ thì lại xa Ta.

Tóm lại, điều cốt lõi trong tôn giáo không phải là làm việc này việc kia, mà chính là lý do thúc đẩy chúng ta làm những việc ấy. Hành động của chúng ta phải được xuất phát từ con tim, từ tình yêu: Mến Chúa và yêu người, thì mới thực sự có giá trị. 

(tinmung.net)

Chủ Nhật, 26 tháng 8, 2012

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT 21 THƯỜNG NIÊN NĂM B (Ga 6, 60-69)



CHỌN LỰA

Sưu tầm 
Cả chúng con nữa, chúng con có muốn bỏ Thầy mà đi hay không?

Câu hỏi Chúa Giêsu đưa ra đòi buộc các môn đệ phải chọn lựa, phải dứt khoát lập trường. Đây không phải là một việc dễ dàng, vì ngay trước đó đã có nhiều môn đệ rút lui, bởi điều Ngài xác quyết một cách mạnh mẽ về thứ lương thực thiêng liêng nuôi sống linh hồn, thật là chói tai không thể nào chấp nhận được theo lẽ tự nhiên: Thịt Ngài là của ăn và Máu Ngài là của uống mang lại cho chúng ta sự sống đời đời.

Với lời tuyên bố ấy, chúng ta có thể nghĩ tới bí tích Thánh Thể, chúng ta đã cử hành trong suốt cả cuộc đời người công giáo, mà chẳng có lấy một chút băn khoăn hay do dự. Chúng ta cũng đã từng đón nhận Mình và Máu thánh Ngài một cách quen thuộc theo nghi lễ và chúng ta không còn nhận ra tính cách chói tai và những khó khăn mà các môn đệ đã găp phải.

Sự tuyên xưng của các ông chính là một sự dấn thân, một hành đông liên quan tới vận mạng của một con người. Tuy nhiên, điều đáng cho chúng ta suy nghĩ hơn cả, đó là mặc dầu chúng ta tin tưởng vững chắc vào lời xác quyết của Chúa: Thịt Máu Ngài chính là lương thực nuôi dưỡng tâm hồn và đem đến cho chúng ta sự sống vĩnh cửu, nhưng trong thực tế, chúng ta lại sống, lại hành động trái ngược với niềm tin tưởng ấy.

Đúng thế, có những người công giáo vốn tự xưng là đạo dòng, đạo gốc…Thế mà cả chục năm không rước Chúa lấy được một lần. Có những người khác, ngày Chúa nhật cũng đến nhà thờ nhưng cho qua lần đoạn lượt mà thôi. Họ đứng ở ngoài sân, vừa nói chuyện, vừa phì phèo điếu thuốc lá và vừa tham dự thánh lễ. Mình không tham dự đã đành, mà còn cả trở và làm cho người khác lo ra, chia trí.

Hơn thế nữa, phần đông chúng ta lại tách biệt thánh lễ ra khỏi cuộc sống. 

Chúng ta giữ đạo ở trong nhà thờ như một người công chức tới giờ đến sở làm việc. Có nghĩa là khi đến nhà thờ, chúng ta trang nghiêm sốt sắng. Nhưng khi thánh lễ kết thúc, cửa nhà thờ đóng lại và chúng ta trở về với cuộc sống thường ngày. Lúc bấy giờ chúng ta lại vội vã gian than, độc ác và bất công. Trong nhà thờ chúng ta là những con chiên ngoan, nhưng giữa lòng cuộc đời, chúng ta lại hoá kiếp thành một loài sói dữ. Như vậy, thánh lễ cũng chỉ là một chiếc ngăn kéo rất nhỏ bé giữa những ngăn kéo biệt lập khác của cuộc sống.

Thế nhưng, với những người có đức tin thì khác, cuộc sống phải trờ thành thánh lễ, hay nói cách khác, tinh thần thánh lễ phải thấm sâu vào cuộc sống của họ. Có nghĩa là chúng ta phải biến đổi đời sống chúng ta thành một thánh lễ nối dài, bằng cách thực thi tinh thần yêu thương và hợp nhất, giúp đỡ những người chung quanh, như một bài hát quen thuộc: Ta về thôi khi thánh lễ đã hết, nhưng đời ta là thánh lễ nối dài, đem tình thương Thiên Chúa đến mọi nơi, ta sống sao để làm chứng nhân.

Hãy góp nhặt những hy sinh rải rắc trong đời thường, để làm nên tấm bánh và chén rượu, như những của lễ chúng ta dâng lên Chúa. Từ đó chúng ta đi đến một câu hỏi, một kết luận, đó là chúng ta đã thực sự sống tinh thần thánh lễ giữa lòng cuộc đời của chúng ta hay chưa?
 
(tinmung.net)

Thứ Sáu, 24 tháng 8, 2012

Thứ Bảy, 18 tháng 8, 2012

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT 20 THƯỜNG NIÊN NĂM B (Ga 6, 51-58)




HIỆP THÔNG

Sưu tầm  
Sự hiện diện thể chất là một điều cao cả. Chúng ta thường không nhận ra điều đó cho đến khi một người thân yêu của chúng ta vắng mặt. Và cả nhà phải sững sờ nhiều hơn khi một người thân yêu qua đời, để lại một khoảng trống to lớn.

Sự hiện diện thể chất là một điều cao cả. Nhưng nó không phải là tất cả. Sự hiện diện thể chất thường không tạo ra sự thân mật mà chúng ta mong ước. Thật vậy, người ta có thể ngồi cạnh nhau mà không thật sự hiện diện cho nhau. Có thể không có sự giao tiếp và ít có sự hiệp thông giữa họ. Và căn cứ vào tất cả những gì xảy ra giữa họ, họ như thể xa nhau ngàn dặm. Nhưng điều ngược lại cũng có thể xảy ra. Người ta có thể xa nhau một khoảng cách lớn nhưng hiện diện cho nhau rất nhiều.

Chúng ta tin rằng Đức Giêsu hiện diện trong Thánh Thể nhưng Người không hiện diện một cách thể chất. Tuy nhiên, Người hiện diện chính xác và chân thật. Cách thức hiện diện của Người bên ngoài sự hiểu biết của chúng ta. Chúng ta gọi đó là “hiện diện thật” bởi vì đó là sự hiện diện với ý nghĩa đầy đủ nhất. Đón nhận quà tặng Thánh Thể là đón nhận chính Chúa.

Dĩ nhiên, người ta được yêu cầu phải có một hành động đức tin. Nhưng đối với những người tin rằng Thiên Chúa hiện diện trong mọi vật ở mọi nơi, thì sự hiện diện duy nhất và đặc biệt của Người trong Thánh Thể không phải là một vấn đề lớn. Ngoài ra, chúng ta còn có lời của Đức Giêsu: “Đây là mình Thầy… Đây là máu Thầy”, Thánh Xirilô nói: “Đừng nghi ngờ đó là sự thật, nhưng tốt hơn nên đón nhận Lời của Đấng Cứu Thế trong đức tin, vì Người không thể nói dối”.

Các cách diễn tả “Ăn thịt” và “uống máu” không nên hiểu theo nghĩa đen và từng chữ một. “Mình và Máu” phải được hiểu như con người toàn diện. Khi chúng ta ăn bánh và uống rượu nho của Thánh Thể, chúng ta không tiếp nhận mình và máu. Chúng ta tiếp nhận một con người, một ngôi vị hằng sống.

Trong Thánh Thể, Đức Giêsu đến với chúng ta, không phải dưới hình thức một vật như một cái đài thu thanh, hoặc một cái áo, hoặc thuốc men. Người đến dưới hình thức của một vật nền tảng hơn, và thiết yếu cho đời sống, đó là lương thực. Đặc biệt hơn Người đến dưới hình thức của bánh. Bánh nuôi dưỡng chúng ta và cho chúng ta sự sống. Nhưng bánh cũng là một vật mà chúng ta có thể đưa vào trong cơ thể chúng ta và làm thành một phần của chính chúng ta. Qua lương thực Thánh Thể Đức Giêsu nuôi dưỡng trong chúng ta sự sống trường sinh bất tử của Thiên Chúa mà chúng ta đã nhận lãnh trong phép Rửa tội. Đó là lý do Người nói: “Ai ăn bánh này sẽ được sống muôn đời”.

Khi chúng ta tiếp nhận Thánh Thể, Đức Giêsu đến với mỗi người chúng ta một cách cá nhân, như thể mỗi người chúng ta là một người duy nhất trong thế giới này ở giây phút đó. Chúng ta có thể bước vào sự thân mật sâu xa với Người hơn cả khi Người hiện diện bằng thể chất. Chúng ta hầu như không giao tiếp với Người nhưng trong sự hiệp thông với Người, một sự hiệp thông thánh thiện. Qua phép Thánh thể một sự liên kết tâm linh được củng cố giữa chúng ta với Đức Giêsu. Thánh Thể cho chúng ta khả năng lớn lên trong sự thân mật và trong tình bạn hữu với Chúa.

Và qua việc chúng ta chia sẻ sự thân mật với Đức Giêsu, chúng ta cũng hiệp nhất với nhau trong sự hiệp thông, điều mà chúng ta phải cố gắng sống trong đời sống thường ngày bằng sự yêu thương, tha thứ và hòa hợp với nhau.

(tinmung.net)

Chủ Nhật, 12 tháng 8, 2012

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT 19 THƯỜNG NIÊN NĂM B (Ga 6, 41-51)



NGUỒN SINH LỰC
Sưu tầm
Ngày kia, tiên tri Elia phải lìa bỏ kinh thành mà chạy trốn vì hoàng hậu Zézabel muốn tìm giết ông. Tiên tri vội vã lên đường, không kịp mang theo đồ ăn và thức uống, rồi chính ông cũng chẳng biết mình sẽ phải về đâu.

Sau nhiều ngày lang thang trong sa mạc cát nóng, vừa mệt mỏi lại vừa tuyệt vọng, ông bèn nằm dưới một bóng cây chờ chết và thiếp vào một giấc ngủ nặng nề.

Lúc sau có một thiên thần đánh thức ông, đưa cho ông bánh và nói:

- Nào hãy chỗi dậy, cầm lấy mà ăn vì đường còn xa.

Elia chỗi dậy, ăn bánh và cơ thể ông lấy lại được sức khỏe, ông trở nên một con người mới, hăm hở băng qua sa mạc, đi cho đến tận đỉnh Horb là núi thánh của Chúa.


Hình ảnh tiên tri Elia cũng chính là hình ảnh chúng ta. Và cuộc hành trình đầy gian khổ tiến lên núi thánh cũng chính là hình ảnh cuộc đời của mỗi người.

Thực vậy, sống trong cuộc đời, chúng ta đều gặp phải những đau khổ đắng cay, những đớn đau buồn phiền. Làm sao chúng ta có đủ sức chịu đựng nổi.

Hơn thế nữa, Thiên Chúa là Đấng yêu thương, Ngài mong muốn cho tất cả chúng ta đều được hưởng niềm hạnh phúc nước trời. Nhưng để xứng đáng với niềm hạnh phúc ấy, chúng ta phải trở nên thánh thiện.

Thế nhưng kinh nghiệm cho chúng ta hay, trở nên thánh không phải là một việc dễ dàng. Biết bao nhiêu lần chúng ta đã dốc quyết điều nọ điều kia, nhưng rồi chỉ trong vòng ba bảy hai mươi mốt ngày, chúng ta lại vội vã quên đi, để rồi vẫn chứng nào tật ấy, mèo vẫn hoàn mèo mà thôi.

Hay như lời thánh Phaolô đã diễn tả:

- Sự thiện tôi muốn thì tôi lại không làm, còn điều ác tôi không muốn thì tôi lại làm.

Trên đường tiến tới quê hương nước trời, chúng ta phải chống cự với biết bao nhiêu kẻ thù, chúng ta phải vượt qua biết bao nhiêu khó khăn.

Như tiên tri Elia đã lấy lại được sức khỏe do bánh mà sứ thần đem tới, thì chúng ta cũng có được một thứ bánh bởi trời, một thứ lương thực thần linh, bồi bổ cho tâm hồn đó là Mình Máu Thánh Chúa.

Ý thức được những lợi ích to lớn ấy, chúng ta hiểu được tại sao Chúa Giêsu đã truyền cho chúng ta phải rước lễ. Để cho chúng ta được sống và không phải chết, Chúa Giêsu đã phán:

- Hãy cầm lấy mà ăn, hãy cầm lấy mà uống…

Đồng thời Ngài cũng cảnh giác:

- Nếu các con không ăn thịt Ta và không uống máu Ta, các con sẽ không có sự sống.

Hơn thế nữa, Ngài còn hứa:

- Ai ăn thịt Ta và uống máu Ta thì sẽ có được sự sống đời đời và Ta, Ta sẽ cho họ sống lại ngày sau hết.

Thế nhưng nhiều người trong chúng ta đã coi thường lệnh truyền của Chúa. Họ giống như những người được nhà vua mời tới tham dự tiệc cưới, nhưng đã viện lý do nọ lý do kia: nào là tôi mới mua nhà, nào là tôi mới tậu bò, nào là tôi mới cưới vợ… để rồi tất cả đã từ chối không đến tham dự. Họ có đủ thời giờ làm mọi việc, chỉ trừ có một việc là không đáp trả lời mời gọi của nhà vua.

Với chúng ta cũng thế. Bí tích Thánh Thể là một bàn tiệc, là một bữa ăn. Chúa Giêsu đã lên tiếng kêu mời chúng ta. Phải chăng chúng ta đã đắp tai ngoảnh mặt làm ngơ, không đếm xỉa gì tới lời mời gọi ấy, bởi vì có khi cả năm chúng ta không rước lễ lấy được một lần?

Để đáp trả tình thương của Chúa Giêsu trong Bí tích Thánh Thể, chúng ta hãy siêng năng tham dự thánh lễ và nhất là hãy sốt sắng rước lễ, mỗi khi có thể, vì việc rước lễ chính là một giới luật, chính là một lệnh truyền, chính là một lời mời gọi đầy yêu thương của Chúa.
(tinmung.net)

Chủ Nhật, 5 tháng 8, 2012

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT 18 THƯỜNG NIÊN NĂM B (Ga 6, 24-35)



THÁNH LỄ
Sưu tầm
Thánh lễ là nơi chúng ta tham dự vào bàn tiệc Mình Máu Thánh Đức Kitô, là nơi lặp lại hy tế Núi Sọ.

Theo Công đồng Vatican II, hy tế này là cội nguồn và chóp đỉnh của toàn bộ đời sống Kitô hữu. Là cội nguồn vì tất cả đời sống Kitô hữu đều phát sinh từ đó. Là chóp đỉnh vì tất cả đời sống Kitô hữu đều phải qui về đó.

Thế nhưng, một số người đã coi việc tham dự thánh lễ như chuyện miễn cưỡng phải tuân giữ. Họ cảm thấy thánh lễ không liên quan gì đến cuộc sống của họ. Rốt cuộc thánh lễ bị bỏ rơi. Nhà thờ ngày Chúa nhật cũng vắng bóng người. Đó là điều đã và đang xảy ra tại các nước Phương Tây, nhưng rồi cũng sẽ là điều xảy ra cho chúng ta.

Khi đi tham dự thánh lễ, chúng ta mang theo thế giới mình đang sống như một hành trang, như một lễ vật. Rồi từ thánh lễ bước vào lại thế giới, để biến thế giới, biến cuộc đời thành một thánh lễ nối dài.

Nhiều khi vì nghĩ rằng cử hành thánh lễ là chuyện của linh mục, còn lễ vật dâng lên là hy tế của Đức Kitô, nên nhiều người đã đi tham dự lễ với hai bàn tay trắng.

Thực ra, thánh lễ đòi hỏi con người nhiều nỗ lực cả trước lẫn sau thánh lễ. Những nỗ lực đụng chạm đến cuộc sống thâm sâu của con người. Tham dự thánh lễ một cách nghiêm chỉnh, không dễ như chúng ta lầm tưởng. Càng được chuẩn bị kỹ lưỡng, thánh lễ càng sinh nhiều hiệu quả.

Cha Teilhard de Chardin đã dùng lễ vật của trái đất để dâng lễ khi viết:

“Tôi là linh mục của Ngài, trên bàn thờ là toàn thể trái đất, tôi sẽ dâng lên Ngài những lao công vất vả cùng với nỗi đau thương của thế giới. Tôi sẽ đặt trên đĩa thánh mùa gặt được đợi chờ từ những cố gắng mới. Tôi sẽ rót vào chén thánh nước cốt của tất cả những hoa trái sẽ được nghiền nát trong ngày hôm nay. Chén thánh và đĩa thánh của tôi là những phần thâm sâu nhất của một tâm hồn được mở rộng để đón nhận tất cả mọi năng lực, trong chốc lát, sẽ dâng lên từ muôn phương của địa cầu và sẽ qui tụ về thần linh”.

Việc dâng lễ sẽ trở nên xa lạ nếu thực sự bánh và rượu không tượng trưng cho chút đóng góp của người đến tham dự.

Công đồng Vatican II cũng đã nói nhiều đến việc dâng lễ. Lễ vật là bản thân tôi, là cuộc đời tôi, là mọi hoạt động của tôi. Như thế, việc dâng hy tế của Đức Kitô không loại bỏ việc chúng ta dâng hy tế đời mình lên cho Thiên Chúa.

Từ những điều vừa trình bày, chúng ta đi tới hai kết luận.

Kết luận thứ nhất, đó là thánh lễ giúp chúng ta đón nhận thập giá đời thường. Bởi vì tất cả những khổ đau và bất hạnh, những đắng cay và buồn phiền sẽ được chúng ta góp lại, trở thành lễ vật của chúng ta, kết hiệp với lễ vật của Đức Kitô mà dâng lên Thiên Chúa.

Kết luận thứ hai, đó là thánh lễ dạy chúng ta biết bẻ bánh cho nhau, có nghĩa là biết yêu thương nhau trong đời thường. Bởi vì tất cả chúng ta cùng chia sẻ một tấm bánh và làm nên một thân thể mầu nhiệm của Đức Kitô.

Một số tín hữu ở Corinthô, khi tham dự nghi thức bẻ bánh, chỉ biết lo cho bữa ăn riêng của mình trước, và như thế, kẻ thì đói khát, người thì lại no say. Thái độ ích kỷ này hoàn toàn trái ngược với tinh thần hiệp thông và chia sẻ của thánh lễ.

Sống tinh thần hiệp thông và chia sẻ với người khác, chính là dấu chỉ cho thấy chúng ta đã thực sự tham dự thánh lễ và đã biến cuộc sống chúng ta thành một thánh lễ nối dài.

(tinmung.net)

Thứ Sáu, 27 tháng 7, 2012

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT 17 THƯỜNG NIÊN NĂM B (Ga 6, 1-15)


  
CỘNG TÁC

Sưu tầm
Có người cho rằng phép lạ Chúa Giêsu làm cho bánh hóa ra nhiều kể lại trong Tin Mừng là chuyện không có thực mà chỉ là tác dụng tâm lý, nghĩa là họ cho rằng: em bé có năm chiếc bánh và hai con cá đã chia phần ăn của mình cho người bên cạnh, và thế là theo gương em bé này, mọi người chia phần ăn của mình cho nhau, nên ai cũng đủ bánh ăn.

Nhưng sự thật không phải như vậy, vì Tin Mừng đã kể lại những chi tiết rất rõ ràng và cả bốn sách Tin Mừng đều thuật lại, đây là một phép lạ thực sự của Chúa Giêsu. Các nhà chú giải Kinh Thánh đã quả quyết: “Phải chối bỏ cả Tin Mừng thì mới có thể loại bỏ khỏi Tin Mừng sự kiện hóa bánh ra nhiều”. Tuy nhiên, điều quan trọng không phải là tìm hiểu phép lạ này có thực hay không mà là tìm hiểu xem Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta điều gì khi làm phép lạ này. Có nhiều điều lắm, chúng ta hãy ghi nhận và suy nghĩ hai điều.

Điều thứ nhất Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta về lòng thương xót.

Trong bối cảnh của phép lạ này, chúng ta thấy có hai thứ thương xót. Các môn đệ thấy trời đã về chiều và người ta mệt mỏi rồi, các ông tội nghiệp họ và đã thưa với Chúa: “Xin Thầy giải tán dân chúng để họ vào các làng mạc mua thức ăn”. Đó là thứ thương xót như thế, thứ thương xót nhập đề, lòng thương xót này cần thiết vì là khởi điểm. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó thôi thì chưa đủ, vì thế, Chúa muốn các môn đệ bước qua thứ thương xót khởi điểm đó, đem thứ thương xót nhập đề vào thứ thương xót thứ hai, thứ thương xót nhập cuộc: “Anh em hãy cho họ ăn”.

Quả thực, có tấm lòng thương xót người khác là một điều tốt rồi nhưng chưa đủ, có những lời nói thương xót người khác cũng là một điều tốt rồi nhưng cũng chưa đủ, mà cần phải có việc làm cụ thể, cần phải có hành động thương xót thực sự nữa. Chúa Giêsu đã thể hiện như thế và Ngài dạy chúng ta hãy sống như thế. Cũng vậy, có lòng trắc ẩn hay những lời nói an ủi, khích lệ, cảm thông là thái độ tốt rồi, nhưng tốt nhất vẫn là biết chia sẻ, biết san sẻ giúp đỡ. Chúa không đòi chúng ta những việc làm to lớn, nhưng đòi chúng ta phải biết san sẻ, phải biết cho những gì trong tầm tay, trong khả năng của mình, phần còn lại chúng ta sẽ được Chúa tiếp tay thực hiện. Điều quan trọng không phải là cho ít hay cho nhiều, nhưng là ở chỗ chúng ta có con mắt đức tin đủ để nhậân ra những người khác cũng là con Thiên Chúa, cũng là anh em của chúng ta. Xin Chúa cho chúng ta biết động lòng trắc ẩn trước những đau khổ của người khác. Xin Chúa tiếp tay trợ giúp chúng ta để tình yêu thương nhân ái được tỏa lan rộng rãi hơn.

Điều thứ hai Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta qua phép lạ hóa bánh này là sự cộng tác.

Trước hết, chúng ta phải xác nhận chắc chắn rằng: nếu không có năm chiếc bánh và hai con cá của em bé kia, Chúa Giêsu vẫn có thể làm phép lạ cho hàng ngàn người ăn no nê, thoải mái. Cũng vậy, không cần có sự cộng tác của các môn đệ trong việc đi tìm bánh, Chúa Giêsu vẫn có thể làm được phép lạ dễ dàng. Nói tóm lại, một mình Chúa có thể làm được mọi sự, không cần ai cộng tác, không cần vật liệu nào cả, với quyền năng vô biên, Chúa chỉ cần phán một lời là tức khắc có ngay, tức khắc có dư thừa bánh cho mọi người ăn. Nhưng ở đây Chúa muốn cho mọi người thấy: việc hóa bánh ra nhiều không phát xuất từ số không, nhưng do sự chia sẻ đầu tiên, rất khiêm tốn, rất nhỏ nhoi của một em bé. Em có thể giữ lại những chiếc bánh và mấy con cá cho riêng mình hay cho những người thân quen. Làm như thế thì chỉ một mình em hay một vài người được ăn, nhưng em đã trao tất cả cho Chúa và Ngài đã dùng quyền năng làm cho bánh và cá hóa ra nhiều cho hàng ngàn người cùng được ăn. Như vậy, năm chiếc bánh và hai con cá của em bé kia là biểu trưng cho một sự cộng tác cần thiết để Chúa Giêsu làm phép lạ.

Cũng vậy, Chúa muốn các môn đệ cộng tác với Ngài trong việc đi tìm bánh, nên Chúa bảo các ông: “Anh em hãy cho họ ăn”, nên chúng ta thấy khi các môn đệ tìm được năm chiếc bánh và hai con cá rồi Chúa mới làm phép lạ. Điều này nhắc nhở cho chúng ta biết: cần có sự cộng tác của chúng ta trong chương trình của Thiên Chúa đối với chúng ta, nghĩa là bên cạnh tình thương và ơn phúc của Chúa, cần có sự cộng tác của chúng ta để xây dựng cuộc đời mình.

Dĩ nhiên với quyền năng vô biên, Chúa có thể làm được mọi sự, nhưng Chúa muốn chúng ta cộng tác với Ngài bằng tất cả những gì chúng ta có, kể cả sự dốt nát, hèn kém, vô dụng của chúng ta. Chúng ta đừng chỉ trông mong Chúa làm phép lạ, dĩ nhiên Chúa có thể làm, nhưng Chúa muốn chúng ta đóng góp bằng thiện chí, bằng cố gắng, bằng kiên nhẫn, bằng hy sinh, không phải chỉ trong đời thường thôi, nhưng cả trong ơn cứu chuộc nữa, như thánh Âu Tinh đã nói: “Thiên Chúa tạo dựng chúng ta, Ngài không cần hỏi ý kiến chúng ta, nhưng để cứu chuộc chúng ta, Ngài cần có sự cộng tác của chúng ta”.

Trong cuộc sống, chúng ta hãy cộng tác với nhau và nhất là cộng tác với ơn Chúa để hoàn thành trách nhiệm đời mình và cùng nhau xây dựng cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn. 
(tinmung.net) 

Thứ Bảy, 21 tháng 7, 2012

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT 16 THƯỜNG NIÊN NĂM B (Mc 6, 30-34)



TÌM KIẾM LƯƠNG THỰC THIÊNG LIÊNG

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà
Ông Delia Delgatto, Giám đốc Trung tâm quốc gia chăm sóc trẻ em của Chi-lê cho biết: Một bé trai người Chi-lê 10 tuổi, bị cha mẹ nghiện ma tuý nặng, vứt bỏ ra đường từ lúc lên năm. Từ đó, em chung sống với một đàn chó hoang chừng 15 con trong một cái hang tại thành phố cảng Talcahuano, ở phía Nam Chi-lê. Ngày ngày cậu bé cùng đi kiếm ăn chung với đàn chó. Hôm nào không tìm được thực phẩm, những con chó cái trong đàn đã cho bé trai này bú sữa của chúng.

Ông Delia kể tiếp: "Cảnh sát Chi-lê bắt lại được bé trai này khi bé nhảy xuống một cái hồ tìm cách thoát thân.”

Vì lâu ngày ở chung với chó, em không biết nói tiếng người mà chỉ biết gầm gừ như chó. Vì em cũng chưa có tên nên báo chí gọi em là Bé Chó. (nguồn:Vietcatholic ngày 21 tháng 6 năm 2001)

Bé Chó nầy không hề thiếu lương thực nuôi xác, nhưng em thiếu hoàn toàn lương thực tinh thần như văn hoá, lễ nghĩa, lời dạy bảo khôn ngoan... nên em không thể thành người. Em mang hình hài con người nhưng không có tính người mà chỉ có thú tính, chẳng khác gì tính cách của một con chó hoang.

Sự kiện hiếm có nầy chứng tỏ cho thấy rằng nếu chỉ dùng lương thực nuôi xác mà không hấp thụ lương thực tinh thần, con người trở nên như con vật.

Để trở thành người, chúng ta không chỉ cần cơm bánh, mà còn cần đến văn hoá, giáo dục và nhất là Lời khôn ngoan mang lại sự sống đời đời của Chúa Giê-su. (Mt 4,4)

Khao khát lương thực tinh thần


Tin Mừng hôm nay cho thấy đám đông dân Do-Thái nô nức tìm đến với Chúa Giê-su, không phải để tìm lương thực vật chất mà là tìm kiếm những lời dạy khôn ngoan.

Vì thấy các môn đệ mệt nhoài sau hành trình rao giảng, Chúa Giê-su sai các ông tìm nơi vắng vẻ nghỉ ngơi cho lại sức.

Các môn đệ vừa xuống thuyền ra đi thì đám đông dân chúng đoán biết địa điểm mà các ngài sẽ đến nên từ các thành, họ kéo nhau đi vòng quanh bờ hồ, tuôn đến nơi ấy trước Chúa Giê-su và các môn đệ.

Khi Chúa Giê-su lên bờ thì thấy dân chúng đã tụ họp đông đảo đang khao khát đón nhận những lời khôn ngoan của Người. Chúa cảm thương họ vì họ như đàn chiên đói khát bơ vơ không người chăn và Người đã trao ban lời khôn ngoan cho họ. (Mc 6, 34)

Thiên Chúa ban cho con người cơm bánh để nuôi phần xác nhưng điều quan trọng hơn là Người ban lương thực tinh thần để bồi bổ tâm linh họ.

Chúng ta rất có phúc khi được sống bên Chúa Giê-su là hiện thân của Sự Khôn Ngoan, được đón nhận Kinh Thánh là kho tàng chứa đựng sự khôn ngoan của Thiên Chúa.

Vì thế, nếu không biết khai thác kho tàng khôn ngoan nầy thì thật vô cùng uổng phí.

Người Ả-rập Xê-út trước đây mang phận nghèo truyền kiếp mặc dù tổ tiên họ sở hữu một kho báu vĩ đại nằm ngay dưới chân mình. Đó là nguồn dầu lửa khổng lồ chiếm hơn một phần tư trữ lượng dầu của toàn thế giới. Tiếc thay, vì không biết khám phá kho tàng đó, nên cha ông họ đã sống trong nghèo đói cùng cực từ đời nầy sang đời khác.

Từ năm 1938, nhờ việc phát hiện và khai thác kho “vàng đen” vĩ đại này, Ả-rập Xê-út trở thành nước xuất khẩu dầu lớn nhất thế giới và nhân dân Ả-rập trở thành những người giàu có.

Như người Ả-rập xưa, chúng ta cũng đang sống bên cạnh kho tàng khôn ngoan của Thiên Chúa. Kho tàng đó là Lời Chúa được ghi lại trong Kinh Thánh. Kho tàng đó là chính Chúa Giê-su, hiện thân của sự Khôn Ngoan Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Nhưng tiếc thay chúng ta không biết khai thác kho tàng khôn ngoan bên cạnh mình, nên chúng ta vẫn còn là những người nghèo đói trong đời sống tâm linh.

* * *

Muốn bắt được cá lớn, người ta phải giong buồm ra khơi vì không ai có thể câu được cá lớn ven bờ. Muốn ăn được trái ngon, người ta phải chịu khó leo lên tận ngọn cây vì những trái nằm trong tầm với của mọi người, chắc không còn ở dưới. Muốn tìm được trầm hương, người ta phải lặn lội vào rừng sâu đầy hiểm trở gian nan. Vậy muốn tìm được kho báu, chúng ta phải chấp nhận gian nan thử thách.

Nguyện xin Chúa Giê-su giúp chúng ta sẵn sàng hy sinh thời giờ và công sức để tìm kiếm và khai thác “Kho báu” trong Tin Mừng của Chúa Giê-su, nhờ đó được trở nên giàu có trong đời sống thiêng liêng.

(tinmung.net)

Thứ Bảy, 14 tháng 7, 2012

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT 15 THƯỜNG NIÊN NĂM B (Mc 6, 7-13)



RAO GIẢNG

Sưu tầm  
Các con hãy đi rao giảng.

Đó là một mệnh lệnh đòi chúng ta phải ra đi.

Ra đi như các tông đồ, từ bỏ nghề nghiệp, từ bỏ quê hương, từ bỏ những người thân yêu và ra đi như thế có nghĩa là hy sinh.

Ra đi như các tu sĩ, từ bỏ gia đình, từ bỏ bè bạn. Và ra đi như thế cũng có nghĩa là hy sinh.

Hễ đã muốn hiến thân theo đuổi một sự nghiệp trong đạo, thì phải bằng cách này hay cách khác, chấp nhận từ bỏ và hy sinh.

Nhưng từ bỏ những cái bên ngoài mà thôi thì vẫn chưa phải là ra đi đích thực. Ra đi đích thực chính là từ bỏ bản thân, từ bỏ những tập quán và những ý riêng tư để tin vào giá trị vô song của nước trời, một vương quốc mà chúng ta phải hy sinh tất cả để xây dựng. Chấp nhận ra đi, chúng ta sẽ rao giảng, sẽ nhắc lại lời Ngài đã nói:

- Nước trời đã gần.

Đó là tất cả những gì chúng ta phải rao truyền cho các tâm hồn.

Nhìn vào cuộc sống, chúng ta thấy còn quá nhiều người chưa nhận biết nước Chúa. Ngày nay cũng chẳng hơn gì ngày xưa, vì nhân loại luôn đợi chờ một cái gì khác nữa.

Vào thời Chúa Giêsu, người ta mong đợi Thiên Chúa sẽ can thiệp, sẽ làm một phép lạ để đánh đuổi binh đội Rôma, biến nước Israel thành một địa đàng mới, đầy đủ mọi vinh quang. Ngày nay người ta cũng mơ ước như thế. Nhưng khốn nỗi là họ không mong đợi ở Thiên Chúa mà lại mong đỡi ở tài năng con người như khoa học, kỹ thuật. Họ tin tưởng ở quyền lực và tổ chức con người để rồi loại trừ Thiên Chúa. Dĩ nhiên không phải là tất cả, vì còn có những người biết suy nghĩ cách sâu xa hơn, để rồi nghiêng mình suy tôn Thiên Chúa…

Nhưng xét cho cùng, vẫn còn biết bao nhiêu sự phủ nhận về nhiều phương diện, hoặc công khai ngoài xã hội, hoặc âm thầm trong đời sống riêng tư.

Sở dĩ như vậy, vì Chúa Giêsu đã rao giảng một nước trời hoàn toàn khác biệt với mộng ước của người Do Thái, một vương quốc thiêng liêng được thiết lập trong tâm hồn người đón nhận.

Chúng ta cũng phải rao giảng như thế, mặc dù có trái với mộng ước của thời đại. Chúng ta phải chèo ngược dòng nước đang cuốn trôi nhân loại.

Như các tông đồ, chúng ta hãy nhắc lại lời Chúa:

- Nước trời đã gần, và đang ở trong tâm hồn những người thiện chí.

Mọi Kitô hữu đều có bổn phận rao giảng lời Chúa, nhưng rao giảng bằng cách nào?

Trước hết, rao giảng bằng lời cầu nguyện.

Đây là cách rao giảng tốt nhất mà mọi người đều có thể áp dụng. Thánh nữ Têrêxa với 24 tuổi đời trong bốn bức tường tu viện, đã được Giáo hội đặt làm bổn mạng các xứ truyền giáo, phải chăng là nhờ lời cầu nguyện của thánh nữ mà biết bao tâm hồn được ơn ăn năn sám hối.

Tiếp đến là rao giảng bằng gương sáng, bằng chính đời sống đạo đức và thánh thiện, bác ái và yêu thương.

Các tu sĩ Phanxicô đầu tiên đã áp dụng phương cách này. Họ rao giảng bằng cách sống Phúc âm, thực hiện sự khó nghèo giữa một thế giới đang chạy theo giàu sang, kể cả những người con của Chúa. Họ sống khó nghèo nhưng trên khuôn mặt luôn phản chiếu niềm vui của thiên đàng, và đó là một bài giảng hùng hồn nhất. Bài giảng sẽ vô ích nếu người giảng không sống lời mình giảng, Trái lại, khi đã sống một cách gương mẫu thì bài giảng hoàn tất. Một khi đã sống thánh thiện và làm gương cho người khác, chúng ta có thể rao giảng bằng lời nói, đó là cách thức thứ ba.

Nói càng ít càng tốt, nhưng phải nói những lời xuất phát từ một tâm hồn thánh thiện, những lời được Chúa soi sáng, vì như lời thánh Phaolô: Muốn tin thì phải được nghe biết, muốn nghe biết thì phải có người nói tới. Chúng ta cũng đừng quên rằng đời sống càng thánh thiện thì lời giảng càng hiệu lực.

Sau cùng, rao giảng bằng cách làm tròn bổn phận.

Thực vậy, địa vị nào cũng có thể là một bài giảng sống động, bổn phận nào cũng có thể là một lời kinh, nếu chúng ta biết thánh hóa, hoàn cảnh nào cũng có thể giúp chúng ta nên chứng tá cho Chúa ngay giữa lòng cuộc đời của mình.

(tinmung.net)