Thứ Sáu, 27 tháng 7, 2012

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT 17 THƯỜNG NIÊN NĂM B (Ga 6, 1-15)


  
CỘNG TÁC

Sưu tầm
Có người cho rằng phép lạ Chúa Giêsu làm cho bánh hóa ra nhiều kể lại trong Tin Mừng là chuyện không có thực mà chỉ là tác dụng tâm lý, nghĩa là họ cho rằng: em bé có năm chiếc bánh và hai con cá đã chia phần ăn của mình cho người bên cạnh, và thế là theo gương em bé này, mọi người chia phần ăn của mình cho nhau, nên ai cũng đủ bánh ăn.

Nhưng sự thật không phải như vậy, vì Tin Mừng đã kể lại những chi tiết rất rõ ràng và cả bốn sách Tin Mừng đều thuật lại, đây là một phép lạ thực sự của Chúa Giêsu. Các nhà chú giải Kinh Thánh đã quả quyết: “Phải chối bỏ cả Tin Mừng thì mới có thể loại bỏ khỏi Tin Mừng sự kiện hóa bánh ra nhiều”. Tuy nhiên, điều quan trọng không phải là tìm hiểu phép lạ này có thực hay không mà là tìm hiểu xem Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta điều gì khi làm phép lạ này. Có nhiều điều lắm, chúng ta hãy ghi nhận và suy nghĩ hai điều.

Điều thứ nhất Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta về lòng thương xót.

Trong bối cảnh của phép lạ này, chúng ta thấy có hai thứ thương xót. Các môn đệ thấy trời đã về chiều và người ta mệt mỏi rồi, các ông tội nghiệp họ và đã thưa với Chúa: “Xin Thầy giải tán dân chúng để họ vào các làng mạc mua thức ăn”. Đó là thứ thương xót như thế, thứ thương xót nhập đề, lòng thương xót này cần thiết vì là khởi điểm. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở đó thôi thì chưa đủ, vì thế, Chúa muốn các môn đệ bước qua thứ thương xót khởi điểm đó, đem thứ thương xót nhập đề vào thứ thương xót thứ hai, thứ thương xót nhập cuộc: “Anh em hãy cho họ ăn”.

Quả thực, có tấm lòng thương xót người khác là một điều tốt rồi nhưng chưa đủ, có những lời nói thương xót người khác cũng là một điều tốt rồi nhưng cũng chưa đủ, mà cần phải có việc làm cụ thể, cần phải có hành động thương xót thực sự nữa. Chúa Giêsu đã thể hiện như thế và Ngài dạy chúng ta hãy sống như thế. Cũng vậy, có lòng trắc ẩn hay những lời nói an ủi, khích lệ, cảm thông là thái độ tốt rồi, nhưng tốt nhất vẫn là biết chia sẻ, biết san sẻ giúp đỡ. Chúa không đòi chúng ta những việc làm to lớn, nhưng đòi chúng ta phải biết san sẻ, phải biết cho những gì trong tầm tay, trong khả năng của mình, phần còn lại chúng ta sẽ được Chúa tiếp tay thực hiện. Điều quan trọng không phải là cho ít hay cho nhiều, nhưng là ở chỗ chúng ta có con mắt đức tin đủ để nhậân ra những người khác cũng là con Thiên Chúa, cũng là anh em của chúng ta. Xin Chúa cho chúng ta biết động lòng trắc ẩn trước những đau khổ của người khác. Xin Chúa tiếp tay trợ giúp chúng ta để tình yêu thương nhân ái được tỏa lan rộng rãi hơn.

Điều thứ hai Chúa Giêsu muốn dạy chúng ta qua phép lạ hóa bánh này là sự cộng tác.

Trước hết, chúng ta phải xác nhận chắc chắn rằng: nếu không có năm chiếc bánh và hai con cá của em bé kia, Chúa Giêsu vẫn có thể làm phép lạ cho hàng ngàn người ăn no nê, thoải mái. Cũng vậy, không cần có sự cộng tác của các môn đệ trong việc đi tìm bánh, Chúa Giêsu vẫn có thể làm được phép lạ dễ dàng. Nói tóm lại, một mình Chúa có thể làm được mọi sự, không cần ai cộng tác, không cần vật liệu nào cả, với quyền năng vô biên, Chúa chỉ cần phán một lời là tức khắc có ngay, tức khắc có dư thừa bánh cho mọi người ăn. Nhưng ở đây Chúa muốn cho mọi người thấy: việc hóa bánh ra nhiều không phát xuất từ số không, nhưng do sự chia sẻ đầu tiên, rất khiêm tốn, rất nhỏ nhoi của một em bé. Em có thể giữ lại những chiếc bánh và mấy con cá cho riêng mình hay cho những người thân quen. Làm như thế thì chỉ một mình em hay một vài người được ăn, nhưng em đã trao tất cả cho Chúa và Ngài đã dùng quyền năng làm cho bánh và cá hóa ra nhiều cho hàng ngàn người cùng được ăn. Như vậy, năm chiếc bánh và hai con cá của em bé kia là biểu trưng cho một sự cộng tác cần thiết để Chúa Giêsu làm phép lạ.

Cũng vậy, Chúa muốn các môn đệ cộng tác với Ngài trong việc đi tìm bánh, nên Chúa bảo các ông: “Anh em hãy cho họ ăn”, nên chúng ta thấy khi các môn đệ tìm được năm chiếc bánh và hai con cá rồi Chúa mới làm phép lạ. Điều này nhắc nhở cho chúng ta biết: cần có sự cộng tác của chúng ta trong chương trình của Thiên Chúa đối với chúng ta, nghĩa là bên cạnh tình thương và ơn phúc của Chúa, cần có sự cộng tác của chúng ta để xây dựng cuộc đời mình.

Dĩ nhiên với quyền năng vô biên, Chúa có thể làm được mọi sự, nhưng Chúa muốn chúng ta cộng tác với Ngài bằng tất cả những gì chúng ta có, kể cả sự dốt nát, hèn kém, vô dụng của chúng ta. Chúng ta đừng chỉ trông mong Chúa làm phép lạ, dĩ nhiên Chúa có thể làm, nhưng Chúa muốn chúng ta đóng góp bằng thiện chí, bằng cố gắng, bằng kiên nhẫn, bằng hy sinh, không phải chỉ trong đời thường thôi, nhưng cả trong ơn cứu chuộc nữa, như thánh Âu Tinh đã nói: “Thiên Chúa tạo dựng chúng ta, Ngài không cần hỏi ý kiến chúng ta, nhưng để cứu chuộc chúng ta, Ngài cần có sự cộng tác của chúng ta”.

Trong cuộc sống, chúng ta hãy cộng tác với nhau và nhất là cộng tác với ơn Chúa để hoàn thành trách nhiệm đời mình và cùng nhau xây dựng cuộc sống ngày càng tốt đẹp hơn. 
(tinmung.net) 

Thứ Bảy, 21 tháng 7, 2012

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT 16 THƯỜNG NIÊN NĂM B (Mc 6, 30-34)



TÌM KIẾM LƯƠNG THỰC THIÊNG LIÊNG

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà
Ông Delia Delgatto, Giám đốc Trung tâm quốc gia chăm sóc trẻ em của Chi-lê cho biết: Một bé trai người Chi-lê 10 tuổi, bị cha mẹ nghiện ma tuý nặng, vứt bỏ ra đường từ lúc lên năm. Từ đó, em chung sống với một đàn chó hoang chừng 15 con trong một cái hang tại thành phố cảng Talcahuano, ở phía Nam Chi-lê. Ngày ngày cậu bé cùng đi kiếm ăn chung với đàn chó. Hôm nào không tìm được thực phẩm, những con chó cái trong đàn đã cho bé trai này bú sữa của chúng.

Ông Delia kể tiếp: "Cảnh sát Chi-lê bắt lại được bé trai này khi bé nhảy xuống một cái hồ tìm cách thoát thân.”

Vì lâu ngày ở chung với chó, em không biết nói tiếng người mà chỉ biết gầm gừ như chó. Vì em cũng chưa có tên nên báo chí gọi em là Bé Chó. (nguồn:Vietcatholic ngày 21 tháng 6 năm 2001)

Bé Chó nầy không hề thiếu lương thực nuôi xác, nhưng em thiếu hoàn toàn lương thực tinh thần như văn hoá, lễ nghĩa, lời dạy bảo khôn ngoan... nên em không thể thành người. Em mang hình hài con người nhưng không có tính người mà chỉ có thú tính, chẳng khác gì tính cách của một con chó hoang.

Sự kiện hiếm có nầy chứng tỏ cho thấy rằng nếu chỉ dùng lương thực nuôi xác mà không hấp thụ lương thực tinh thần, con người trở nên như con vật.

Để trở thành người, chúng ta không chỉ cần cơm bánh, mà còn cần đến văn hoá, giáo dục và nhất là Lời khôn ngoan mang lại sự sống đời đời của Chúa Giê-su. (Mt 4,4)

Khao khát lương thực tinh thần


Tin Mừng hôm nay cho thấy đám đông dân Do-Thái nô nức tìm đến với Chúa Giê-su, không phải để tìm lương thực vật chất mà là tìm kiếm những lời dạy khôn ngoan.

Vì thấy các môn đệ mệt nhoài sau hành trình rao giảng, Chúa Giê-su sai các ông tìm nơi vắng vẻ nghỉ ngơi cho lại sức.

Các môn đệ vừa xuống thuyền ra đi thì đám đông dân chúng đoán biết địa điểm mà các ngài sẽ đến nên từ các thành, họ kéo nhau đi vòng quanh bờ hồ, tuôn đến nơi ấy trước Chúa Giê-su và các môn đệ.

Khi Chúa Giê-su lên bờ thì thấy dân chúng đã tụ họp đông đảo đang khao khát đón nhận những lời khôn ngoan của Người. Chúa cảm thương họ vì họ như đàn chiên đói khát bơ vơ không người chăn và Người đã trao ban lời khôn ngoan cho họ. (Mc 6, 34)

Thiên Chúa ban cho con người cơm bánh để nuôi phần xác nhưng điều quan trọng hơn là Người ban lương thực tinh thần để bồi bổ tâm linh họ.

Chúng ta rất có phúc khi được sống bên Chúa Giê-su là hiện thân của Sự Khôn Ngoan, được đón nhận Kinh Thánh là kho tàng chứa đựng sự khôn ngoan của Thiên Chúa.

Vì thế, nếu không biết khai thác kho tàng khôn ngoan nầy thì thật vô cùng uổng phí.

Người Ả-rập Xê-út trước đây mang phận nghèo truyền kiếp mặc dù tổ tiên họ sở hữu một kho báu vĩ đại nằm ngay dưới chân mình. Đó là nguồn dầu lửa khổng lồ chiếm hơn một phần tư trữ lượng dầu của toàn thế giới. Tiếc thay, vì không biết khám phá kho tàng đó, nên cha ông họ đã sống trong nghèo đói cùng cực từ đời nầy sang đời khác.

Từ năm 1938, nhờ việc phát hiện và khai thác kho “vàng đen” vĩ đại này, Ả-rập Xê-út trở thành nước xuất khẩu dầu lớn nhất thế giới và nhân dân Ả-rập trở thành những người giàu có.

Như người Ả-rập xưa, chúng ta cũng đang sống bên cạnh kho tàng khôn ngoan của Thiên Chúa. Kho tàng đó là Lời Chúa được ghi lại trong Kinh Thánh. Kho tàng đó là chính Chúa Giê-su, hiện thân của sự Khôn Ngoan Thiên Chúa ở cùng chúng ta. Nhưng tiếc thay chúng ta không biết khai thác kho tàng khôn ngoan bên cạnh mình, nên chúng ta vẫn còn là những người nghèo đói trong đời sống tâm linh.

* * *

Muốn bắt được cá lớn, người ta phải giong buồm ra khơi vì không ai có thể câu được cá lớn ven bờ. Muốn ăn được trái ngon, người ta phải chịu khó leo lên tận ngọn cây vì những trái nằm trong tầm với của mọi người, chắc không còn ở dưới. Muốn tìm được trầm hương, người ta phải lặn lội vào rừng sâu đầy hiểm trở gian nan. Vậy muốn tìm được kho báu, chúng ta phải chấp nhận gian nan thử thách.

Nguyện xin Chúa Giê-su giúp chúng ta sẵn sàng hy sinh thời giờ và công sức để tìm kiếm và khai thác “Kho báu” trong Tin Mừng của Chúa Giê-su, nhờ đó được trở nên giàu có trong đời sống thiêng liêng.

(tinmung.net)

Thứ Bảy, 14 tháng 7, 2012

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT 15 THƯỜNG NIÊN NĂM B (Mc 6, 7-13)



RAO GIẢNG

Sưu tầm  
Các con hãy đi rao giảng.

Đó là một mệnh lệnh đòi chúng ta phải ra đi.

Ra đi như các tông đồ, từ bỏ nghề nghiệp, từ bỏ quê hương, từ bỏ những người thân yêu và ra đi như thế có nghĩa là hy sinh.

Ra đi như các tu sĩ, từ bỏ gia đình, từ bỏ bè bạn. Và ra đi như thế cũng có nghĩa là hy sinh.

Hễ đã muốn hiến thân theo đuổi một sự nghiệp trong đạo, thì phải bằng cách này hay cách khác, chấp nhận từ bỏ và hy sinh.

Nhưng từ bỏ những cái bên ngoài mà thôi thì vẫn chưa phải là ra đi đích thực. Ra đi đích thực chính là từ bỏ bản thân, từ bỏ những tập quán và những ý riêng tư để tin vào giá trị vô song của nước trời, một vương quốc mà chúng ta phải hy sinh tất cả để xây dựng. Chấp nhận ra đi, chúng ta sẽ rao giảng, sẽ nhắc lại lời Ngài đã nói:

- Nước trời đã gần.

Đó là tất cả những gì chúng ta phải rao truyền cho các tâm hồn.

Nhìn vào cuộc sống, chúng ta thấy còn quá nhiều người chưa nhận biết nước Chúa. Ngày nay cũng chẳng hơn gì ngày xưa, vì nhân loại luôn đợi chờ một cái gì khác nữa.

Vào thời Chúa Giêsu, người ta mong đợi Thiên Chúa sẽ can thiệp, sẽ làm một phép lạ để đánh đuổi binh đội Rôma, biến nước Israel thành một địa đàng mới, đầy đủ mọi vinh quang. Ngày nay người ta cũng mơ ước như thế. Nhưng khốn nỗi là họ không mong đợi ở Thiên Chúa mà lại mong đỡi ở tài năng con người như khoa học, kỹ thuật. Họ tin tưởng ở quyền lực và tổ chức con người để rồi loại trừ Thiên Chúa. Dĩ nhiên không phải là tất cả, vì còn có những người biết suy nghĩ cách sâu xa hơn, để rồi nghiêng mình suy tôn Thiên Chúa…

Nhưng xét cho cùng, vẫn còn biết bao nhiêu sự phủ nhận về nhiều phương diện, hoặc công khai ngoài xã hội, hoặc âm thầm trong đời sống riêng tư.

Sở dĩ như vậy, vì Chúa Giêsu đã rao giảng một nước trời hoàn toàn khác biệt với mộng ước của người Do Thái, một vương quốc thiêng liêng được thiết lập trong tâm hồn người đón nhận.

Chúng ta cũng phải rao giảng như thế, mặc dù có trái với mộng ước của thời đại. Chúng ta phải chèo ngược dòng nước đang cuốn trôi nhân loại.

Như các tông đồ, chúng ta hãy nhắc lại lời Chúa:

- Nước trời đã gần, và đang ở trong tâm hồn những người thiện chí.

Mọi Kitô hữu đều có bổn phận rao giảng lời Chúa, nhưng rao giảng bằng cách nào?

Trước hết, rao giảng bằng lời cầu nguyện.

Đây là cách rao giảng tốt nhất mà mọi người đều có thể áp dụng. Thánh nữ Têrêxa với 24 tuổi đời trong bốn bức tường tu viện, đã được Giáo hội đặt làm bổn mạng các xứ truyền giáo, phải chăng là nhờ lời cầu nguyện của thánh nữ mà biết bao tâm hồn được ơn ăn năn sám hối.

Tiếp đến là rao giảng bằng gương sáng, bằng chính đời sống đạo đức và thánh thiện, bác ái và yêu thương.

Các tu sĩ Phanxicô đầu tiên đã áp dụng phương cách này. Họ rao giảng bằng cách sống Phúc âm, thực hiện sự khó nghèo giữa một thế giới đang chạy theo giàu sang, kể cả những người con của Chúa. Họ sống khó nghèo nhưng trên khuôn mặt luôn phản chiếu niềm vui của thiên đàng, và đó là một bài giảng hùng hồn nhất. Bài giảng sẽ vô ích nếu người giảng không sống lời mình giảng, Trái lại, khi đã sống một cách gương mẫu thì bài giảng hoàn tất. Một khi đã sống thánh thiện và làm gương cho người khác, chúng ta có thể rao giảng bằng lời nói, đó là cách thức thứ ba.

Nói càng ít càng tốt, nhưng phải nói những lời xuất phát từ một tâm hồn thánh thiện, những lời được Chúa soi sáng, vì như lời thánh Phaolô: Muốn tin thì phải được nghe biết, muốn nghe biết thì phải có người nói tới. Chúng ta cũng đừng quên rằng đời sống càng thánh thiện thì lời giảng càng hiệu lực.

Sau cùng, rao giảng bằng cách làm tròn bổn phận.

Thực vậy, địa vị nào cũng có thể là một bài giảng sống động, bổn phận nào cũng có thể là một lời kinh, nếu chúng ta biết thánh hóa, hoàn cảnh nào cũng có thể giúp chúng ta nên chứng tá cho Chúa ngay giữa lòng cuộc đời của mình.

(tinmung.net)

Chủ Nhật, 8 tháng 7, 2012

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT 14 THƯỜNG NIÊN NĂM B (Mc 6, 1-6)


Mời xem videoclip>>

THÀNH KIẾN 
Sưu tầm
Ông ta là ai vậy? Bởi đâu ông ta đã làm được những chuyện lạ lùng như thế? Ông ta không phải là con ông Giuse và bà Maria sao? Họ hàng anh chị em của ông ta không phải là những người láng giềng của chúng ta sao? Ông ta không phải là người đã sinh sống và làm nghề thợ mộc ở đây với chúng ta sao?

Phải, đúng lắm. Đó chính là Chúa Giêsu, con của ông Giuse và bà Maria, đã sinh sống và làm nghề thợ mộc ở Nagiarét 30 năm trời.Nhưng tại sao những người đồng hương lại ngạc nhiên và thắc mắc về Chúa như vậy? Bởi vì ít lâu nay họ đã nghe dư luận đồn thổi về những lời giảng dạy mới lạ, đầy uy quyền của Chúa, cũng như đã nghe dân chúng bàn tán xôn xao về những phép lạ Chúa đã làm ở nơi này nơi kia… Đó là những công việc, những phép lạ Chúa Giêsu đã làm trước khi Ngài về Nagiarét, quê hương của Ngài. Nhưng những người đồng hương của Ngài không tin và không thể tin. Tin làm sao được ông Giêsu đang đứng trước mặt họ đây có thể làm được những điều lạ lùng như thế, nhất là tin làm sao được ông Giêsu đây là Thiên sai, Đấng cứu tinh, là Đấng mà dân tộc họ đang trông đợi cả ngàn năm?

Dân làng Nagiarét không thể nào chấp nhận một người mà họ đã quá biết: thân thế tầm thường, gia đình nghèo nàn. Biết cả họ hàng chẳng danh giá gì. Biết rõ quá như thế thì làm sao người đó có thể là vị cứu tinh, là Đấng cứu thế, là Đấng giải thoát cho dân tộc họ được? Quả thực, họ đã bị thành kiến về giàu nghèo, về giai cấp trong xã hội làm mù quáng, không thể nhận ra bản tính Thiên Chúa, nhận ra sứ mạng cứu chuộc nơi con người Chúa Giêsu. Từ thành kiến sai lầm đó họ đâm ra hoài nghi và yêu cầu Chúa làm phép lạ như đã làm ở những nơi khác. Trước thái độ ít cởi mở và hoài nghi của họ, vì họ không tin, nên Chúa không làm phép lạ được. Không phải vì Ngài không thể làm, bằng chứng là Ngài cũng có đặt tay chữa cho mấy người bệnh, nhưng chính vì họ không tin.

Dân làng Nagiarét không tin Chúa Giêsu. Không tin là vì bụt nhà không thiêng, như có lần Chúa đã nói: “Chẳng ngôn sứ nào được danh tiếng nơi quê hương mình”, hoặc tệ hơn, như Chúa nói trong bài Tin mừng hôm nay: “Ngôn sứ có bị rẻ rúng, thì cũng chỉ là ở chính quê hương mình, hay giữa đám bà con thân thuộc, và trong gia đình mình mà thôi”. Tại sao dân làng Nagiarét không tin? Họ không tin vì thành kiến. Họ đã đóng khung Thiên Chúa và tôn giáo trong những định kiến hẹp hòi, có sẵn của họ. Vì thế, họ không thể thấy được những chân trời rộng lớn và mới mẻ mà Chúa mở ra cho họ. Họ cũng không thể chấp nhận Chúa Giêsu là hiện thân của nước trời và sự khôn ngoan của Thiên Chúa. Có ai ngờ Đấng cứu thế lại là một người đơn sơ, khiêm hạ như thế. Đối với người Do thái đương thời, Chúa Giêsu đến quá ư bất ngờ và quá khác xa với quan niệm họ sẵn có về Đấng cứu thế. Họ không biết rằng đường lối của Thiên Chúa có thể khác xa với sự toan tính của loài người.

Qua đó chúng ta rút ra được một bài học thực tế: Thành kiến là một tâm trạng thiên lệch rất tai hại, là một sự yên trí, phán đoán mọi người mọi vật theo những quan niệm làm sẵn, có sẵn trong đầu óc, nhất là khi những tư tưởng có sẵn đó lại sai lạc, thì có thể đưa đến những hậu quả không hay, sai lầm hoặc nguy hại. Thật vậy, ai đeo kính đen thì nhìn cái gì cũng tối hết; lưỡi đắng thì ăn gì cũng đắng; lòng buồn cảnh có vui đâu bao giờ. Yêu nên tốt, ghét nên xấu: “Yêu nhau yêu cả đường đi. Ghét nhau ghét cả tông chi họ hàng”. Lòng chúng ta có khuynh hướng mạnh về điều gì, thì mắt chúng ta hay tìm, trí chúng ta hay tưởng và rồi chúng ta phán đoán người khác cũng giống như chúng ta và hơi chút là chúng ta đoán về đàng đó liền.

Thành kiến là một chứng bệnh di truyền kinh niên bất trị của loài người, không ai thoát khỏi. Chúng ta hằng to tiếng lên án lối sống phô trương bên ngoài. Nhưng trên thực tế, chúng ta lại hay căn cứ vào những cái bên ngoài mà đánh giá thiên hạ. Đánh giá một người theo bên ngoài có thể đúng nhưng cũng có thể sai lầm. Câu nói: “Trông mặt mà bắt hình dong” không phải là nguyên tắc chính xác, nên chính Chúa Giêsu có lần khuyên chúng ta: “Đừng có xem mặt mà bắt hình dong”. Khổng Tử cũng xác nhận: “Người tôi yêu chưa chắc đã tốt; người tôi ghét chưa chắc đã xấu”. Phong dao cũng có câu: “Người xấu duyên lặn vào trong. Bao nhiêu người đẹp duyên bong ra ngoài”. Lặn vào thì còn lại, bong ra thì mất đi rồi. Và hẳn chúng ta cũng không quên câu nói: “Tốt gỗ hơn tốt nước sơn”,”Xanh vỏ mà đỏ lòng”. Cho nên, đánh giá một người mà chỉ căn cứ vào bề ngoài có thể là nông nổi, thiển cận và nguy hiểm.

Tóm lại, thành kiến đã làm cho dân làng Nagiarét phán đoán sai về Chúa Giêsu. Họ đã không nhận ra Ngài là Đấng cứu tinh. Đối với chúng ta cũng vậy, thành kiến có thể làm chúng ta mù quáng, không nhận định và phê phán một cách khách quan đúng đắn được. Thành kiến làm chúng ta không thể đối thoại, cởi mở với người khác và không nhìn thấy cái hay cái tốt nơi người. Vì thế, chúng ta phải loại bỏ tất cả những gì là thành kiến về bản thân để khỏi tự ti mặc cảm; cũng như thành kiến về những người chung quanh, để có được một cái nhìn đúng đắn hơn, một nhận xét chân thành hơn, một phán đoán khách quan hơn, và một đời sống yêu thương cởi mở hơn.

(tinmung.net)

Chủ Nhật, 1 tháng 7, 2012

CÁC CA ĐOÀN PHỤNG VỤ SAU CÔNG ĐỒNG VATICAN II

Các ca đoàn Phụng vụ sau Công đồng Vatican II

Có nhiều ca đoàn trong các nhà thờ tại Việt Nam. Những ca đoàn này đã góp phần đáng kể trong công việc thờ phượng Chúa. Nhưng tất cả đã là những ca đoàn phụng vụ chưa thì tôi chưa dám quyết, mà chỉ muốn đưa ra một mô hình ca đoàn phụng vụ sau Công Đồng Va-ti-ca-nô II trong bài viết dưới đây, dựa theo một số tài liệu trong tạp chí Maison-Dieu, Célébrer và một bài nhận định của linh mục Nguyễn Hữu Triết về hiện tìnhThánh Nhạc Việt Nam.

Những tạp chí và tài liệu đó càng làm cho tôi thêm xác tín về sự cần thiết và vai trò của các ca đoàn phụng vụ trong việc tôn vinh và thờ phượng Thiên Chúa. Vì vậy, tôi xin chia bài này làm hai phần : phần I nói chung về các ca đoàn, phần II nói về các ca đoàn phụng vụ sau Công Đồng Va-ti-ca-nô II ở bên ta cũng như bên Tây, để đi tới kết luận rằng ca đoàn là một bộ phần cần thiết và đắc dụng của cộng đoàn, nên cần được chăm sóc và huấn luyện về cả hai phía ca đoàn cũng như cộng đoàn, đặc biệt nơi những người có trách nhiệm riêng như cha sở và ca trưởng.

I. Nói chung về ca đoàn

1,1 Ca đoàn là gì ?

Ca đoàn là một từ mới được sử dụng trong những năm gần đây. Ngày trước những người hát trong nhà thờ thường được gọi là hội hát hay ban ca vịnh, gồm toàn nam giới và hoạt động cũng khá hạn chế, nghĩa là chỉ hát lễ và hát chầu bằng tiếng la tinh.

Trước năm 1945, ngoài các bài hát bằng tiếng la tinh là các bài hát bằng tiếng Pháp trong cuốn Cantique de la jeunesse. Một số bài trong cuốn này cũng như một số bài bằng tiếng la tinh như Veni Creator, Jesus dulcis memoria v.v… được đặt lời Việt vào để hát. Ngoài ra lại có cả một cuốn sách hát Tây lời Việt đề là Thanh Niên Kinh Nhạc, do ông Nguyễn Đức Lợi sưu tầm và xuất bản, nhưng không biết xuất bản năm nào [1], và một cuốn khác do cha già Vượng, giáo phận Hà nội sưu tầm và đặt lời. Thỉnh thoảng có một số bài do mấy chủng sinh Đại Chủng Viện Liễu Giai-Hà-nội [2] sáng tác như Nguyện xin Mẹ rất từ bi của thày Hùng Lân và Ôi thiêng liêng cao quí vô cùng của thày Phương Linh trước 1945, nhưng ít được ai biết đến. Vào tháng 10 năm 1945, nhạc đoàn Lê Bảo Tịnh ra đời và cho phát hành Cung Thánh I. Thánh ca Việt Nam phát khởi từ đây và lan rộng khắp nơi. Ngoài ra, trong Nam trước đó đã có những bài rất nổi tiếng như Nửa đêm mừng Chúa ra đời và Nguyện xin Chúa Thánh Thần của limh mục Phao-lồ Đạt cũng như mấy bài của thầy Mạc Khanh ở Thanh Hóa như Chói lói Con Chúa nơi cửu trùng và Hải tần v.v…

Vậy ca đoàn là gì ? Thưa là một tổ hợp thanh niên thiếu nữ hát lễ trong các nhà thờ ngày Chúa nhật cũng như ngày thường và các ngày lễ cưới, lễ an táng, chầu Mình Thánh Chúa v.v… hay một hội, một nhóm đồng ca, hát những bài ca phụng vụ [3].

Từ ca đoàn không có trong tự điển tiếng Việt. Thông thường hiện nay, người ta hiểu ca đoàn là những người đi hát lễ. Hiểu như vậy không sai, nhưng chưa đủ. Vì vậy, cần phải nói thêm về vai trò và nhiệm vụ của ca đoàn nữa.

1,2 vai trò của ca đoàn

Ca đoàn có một vai trò và nhiệm vụ cao quí. Điều này chính ĐGH Phao-lô VI đã nói như sau : “Nếu đọc kỹ các tài liệu về Thánh Nhạc, người ta sẽ thấy rõ, ngay cả bây giờ, nhiệm vụ Hội thánh giao cho Thánh Nhạc, những người sáng tác cũng như các nhạc công, các ca đoàn và những người hát trong nhà thờ thật là cao quí và hệ trọng, như từ trước đến nay vẫn thế. Khi cử hành phụng vụ, phải liệu phô diễn những hình thức nghệ thuật sao cho thật hay, thật đẹp, như kèm theo các nghi thức là những cử điệu khoan thai, đẹp mắt, xứng hợp, trang trọng, cung giọng trong sáng dễ nghe, dễ đáp ; như đi đôi với lời cầu nguyện của Hội thánh là những bài hát vừa hay vừa cảm động, lại có sức nâng tâm hồn người nghe lên cùng Thiên Chúa và giúp cầu nguyện. Âm nhạc tỏa chiếu trên cộng đoàn họp nhau lại nhân danh Chúa Ki-tô một thứ ánh sáng rực rỡ như chính gương mặt của Người vậy. Nhờ sức mạnh vô hình của nghệ thuật, các ca đoàn dễ bay lên vùng ánh sáng rạng ngời của chân lý, tìm gặp Thiên Chúa là Đấng thanh tẩy và thánh hóa. Như thế, họ có thể giúp cộng đoàn cử hành mầu nhiệm cứu độ trong những điều kiện thuận lợi khi chính họ thông phần mật thiết vào các ơn ích của mầu nhiệm đó.

Nhằm mục đích này, những tài liệu tôi vừa trưng dẫn, nhằm cổ võ các ca đoàn, từ những ca đoàn trong các đại giáo đường, các nhà thờ chánh tòa, các đan viện nổi tiếng cho tới các ban hát trong các nhà nguyện, nhà thờ nhỏ, say sưa tập luyện và chuyên cần trau dồi nghệ thuật. Huấn thị về Thánh Nhạc muốn rằng không một buổi cử hành phụng vụ nào mà không có hát, nên đã yêu cầu trong trường hợp không có ban hát nhỏ, thì phải có ít là hai hay ba người biết hát và được huấn luyện vừa đủ, để có thể giúp giáo dân tham dự thánh lễ và các nghi thức bằng những bài hát đơn sơ dễ hát, lại biết điều khiển và làm điểm tựa cho họ dựa vào để hát [4].

Qua những lời lẽ trên, Hội Thánh tỏ ra săn sóc đặc biệt đến các ca đoàn, kêu mời họ đạo và cha sở lưu tâm đến ca đoàn. Lý do của sự quan tâm này là vì các ca đoàn góp phần vào việc tôn vinh thờ phượng Chúa, một nhiệm vụ hàng đầu của Hội Thánh.

Đó là bản chất và lý hữu của ca đoàn. Bây giờ xin nói đến nhiệm vụ của ca đoàn.

1,3 Nhiệm vụ của ca đoàn

Ca đoàn có nhiệm vụ yểm trợ và làm nền cho cộng đoàn hát, hay hát đối đáp với cộng đoàn, và đảm nhận những phần hát khó và đòi hỏi hơn. Riêng đối với bản thân, mỗi ca viên có bổn phận phải lo cho mình được huấn luyện về đường thiêng liêng, tìm cách để được hiểu Kinh Thánh , Phụng Vụ và các tài liệu Thánh Nhạc. Ngoài ra là tuân hành nội qui và nhịp độ sinh hoạt của ca đoàn, vì vào ca đoàn là làm một công tác thuộc đức thờ phượng, và ở trong ca đoàn là làm một tông đồ nhằm phổ biến vẻ đẹp của nghệ thuật cả về nội dung lẫn hình thức, qua lời ca tiếng hát để tôn vinh Thiên Chúa và thánh hóa các tín hữu. Đây là lý tưởng cần phải nhắm tới, còn thực tế thì phải nói là khó, vì vấn đề không được các vị hữu trách lưu tâm đến bao nhiêu, cứ để cho ca đoàn và ca trưởng tự do xử lý, dù đã có những thông cáo hướng dẫn [5].

Năm 1987 Ban Thánh Nhạc Giáo Phận Thành Phố đã ra các tập in ronéo về Mùa Vọng, Mùa Chay, Tam Nhật Vượt Qua, nhưng không lấy gì làm phấn khởi, vì các linh mục quản xứ không lưu tâm, giới trẻ không thích nhạc phụng vụ. Sở dĩ như vậy vì phần đông không hiểu Thánh Nhạc là nhạc dùng trong nhà thờ để tôn vinh Thiên Chúa và thánh hóa tín hữu, nên có qui luật riêng về nghệ thuật là phải hay, phải thánh thiện và mang tính phổ quát, nghĩa là ở đâu và thời nào cũng hay.

Vì vậy, muón giúp ca đoàn thi hành nhiệm vụ này, các vị hữu trách nên nhắc cho ca trưởng và ca đoàn luật hát xướng của Hội Thánh trong nhà thờ, kiểm tra bài hát về nội dung và nhạc điệu, chỉ cho cách chọn bài hát, nhấn mạnh đến tính cầu nguyện, cổ vũ và cho người đi học các lớp thánh nhạc và đệm đàn.

2. Thế nào là ca đoàn phụng vụ ?

Ca đoàn phụng vụ là ca đoàn chuyên lo ca hát ở nhà thờ theo qui luật của Thánh Nhạc cũng như các chỉ dẫn và đòi hỏi của Phụng Vụ. Là phụng vụ, khi ca đoàn hát các bài ca phù hợp với từng phần trong thánh lễ, theo từng thể loại như đáp ca, đối ca, tung hô, ca vịnh, cung đọc, ca khúc, nghĩa là từ vị trí, thể loại cho đến nội dung lời ca, tất cả đều nằm trong mục đích tôn vinh Thiên Chúa và thánh hóa các tín hữu. Những ca đoàn như thế này tương đối còn ít ở nước ta, vì những lý do như nói ở trên, lại gặp hoàn cảnh không thuận lợi, không có phương tiện, không sẵn người chuyên môn, tuy có nhiều ca đoàn hát hay nhưng chưa phải là phụng vụ. Có chăng thì mới chỉ có Ban Hợp Xướng Pio X từ 17 năm nay đã luôn theo sát các qui luật của Thánh nhạc mà hát theo phụng vụ, đúng như các phần đoạn trong thánh lễ cũng như hình thức, thể loại và lời ca lấy từ các bản văn phụng vụ và Kinh Thánh. Còn bên Âu Mỹ, người ta có nhiều chuyên viên, lại sẵn phương tiện và truyền thống lâu đời nên thấy khác. Hơn nữa, kỷ luật về Thánh Nhạc nơi họ được áp dụng và tuân hành chặt chẽ hơn. Các thứ loại nhạc mới phát xuất từ nơi họ, nhưng họ phân biệt rất rõ nhạc ngoài đời với nhạc trong nhạc thờ. Trong nhà thờ, người ta không hát và đệm đàn như trong các nhà thờ Việt Nam. Nói đúng ra là người ta hiểu và thì hành kỷ luật một cách nghiêm túc. Có lẽ vì vậy mà những người xuất thân từ các học viện thánh nhạc như Viện thánh nhạc Rô-ma, bài hát họ làm ra không phải kiểm duyệt, vì họ đã kiểm duyệt trước theo những điều đã được học biết và cũng vì lương tâm nghề nghiệp và tinh thần tự trọng nữa.

Nói gọn lại, có thể căn cứ vào những tiêu chuẩn sau đây để xác nhận một ca đoàn là phụng vụ :

1,3,1 Ca tụng tôn vinh Chúa

Ca đoàn ấy theo đuổi mục đích chính là ca tụng tôn vinh Chúa và thánh hóa các tín hữu.

1.3.2 Phân biệt nhạc đạo với nhạc đời

Ca đoàn ấy phân biệt rõ nhạc đạo với nhạc đời. Nhạc nào là đời thì chơi ở ngoài đời, nhạc nào là đạo mới đem vào nhà thờ

1,3,3 Cầu nguyện thật sự

Ca đoàn ấy cầu nguyện và giúp cầu nguyện thật sự, trong khi hát và giúp người ta cầu nguyện, bằng những bài hát mà tâm tình và ý tưởng phát xuất từ những bản văn Kinh Thánh và Phụng vụ, lại được thể hiện với một cung cách đưa tâm hồn người nghe, người hát lên cao và mang đến cho tâm hồn họ, những tâm tình sốt mến, nghĩa là nghe hát và hát xong, người ta thấy có một cái gì đó và cũng còn để lại một cái gì đó.

1.3.4 Không theo lối đời

Lối đời là hát để được tiếng cho cá nhân cũng như đoàn thể. Ca đoàn ấy hát không phải để đề cao cá nhân như ca sĩ hay tự đề cao mình như ca đoàn vượt trội. Ở đây không có cơ hội cho cá nhân trở thành ngôi sao và không biến người lĩnh xướng thành ca sĩ như ở phòng trà, các tụ điểm ca nhạc hay trên màn hình.

1.3.5 Thi hành đúng phần việc

Khi hát, điều khiển ca đoàn hay chơi nhạc cụ, ai cũng chỉ thi hành công việc cần thiết và không ai chơi trội để lấy tiếng cho mình.

II. Các ca đoàn phụng vụ sau Công Đồng Va-ti-ca-nô II

1. Ban Hát Nhà Thờ Chánh Tòa Đức Bà Paris. [6]

Tôi nói mà không dám giới thiệu, vì giới thiệu thì phải biết rõ, đàng này tôi mới dự có một buổi Kinh Chiều vào đầu tháng 2, năm 1993. Bởi vậy, tôi chỉ nói những điều mắt thấy tai nghe.

Tôi thấy có vài chục ca viên gồm người lớn, thanh niên,thiếu nữ, nhi đồng mặc đồng phục mầu xanh đậm. Họ đứng hai bên các hàng ghế được dành cho các kinh sĩ hay tu sĩ hát kinh phụng vụ.[7] Mỗi khi hát thì ca trưởng ra đứng ở giữa đánh nhịp cho họ. Người đánh nhịp hôm đó là một thiếu nữ. Cô đánh nhịp không đẹp và không có gì hấp dẫn bằng phần đông các cô đánh nhịp trong các ca đoàn của chúng ta. Tôi chỉ thấy nhịp của cô làm cho người ta hát được, hát đều và hát đúng cũng như mấy cô đầm đánh nhịp ở nhà thờ Mai Khôi cho người Pháp vào các lễ Chúa Nhật lúc 10g30 sáng. Ca đoàn hát đối đáp với cộng đoàn, mỗi bên chu toàn đúng phần việc của mình. Các bài hát được in sẵn và để tại chỗ người tham dự. Chiều nào người ta cũng hát như thế tùy theo bậc lễ. Những người hát trong ban này là những thành phần chuyên nghiệp được huấn luyện và được trả lương. Tuy vậy, họ không hát như những người hát thuê mà hát như những người có trách nhiệm. Tiền lương họ nhận được là mối dây buộc họ phải làm cho chu đáo. Đó là điều công bằng về cả hai phía. Kể cũng đáng đối với một nhà thờ như nhà thờ Đức Bà Paris, nơi có nhiều du khách đến thăm viếng và tham dự các giờ kinh mỗi ngày.

2. Ca Đoàn Nhà Thờ Chánh Tòa Thánh Phao-lô ở Lyon  [8]

2,1 Vài dòng lịch sử

Nguồn gốc Ban Hát của nhà thờ này có từ rất lâu đời. Năm 800, ĐC Leitrade mở một trường dạy hát ở gần nhà thờ chánh tòa, theo lời yêu cầu của bạn ngài là hoàng đế Charlemagne. Trường này tồn tại mãi cho đến thế kỷ XVIII. Hiện nay còn ngôi nhà rất đẹp tên là Mécanterie, nơi lưu trú của các em ca viên thời xưa. Cuộc Cách Mạng năm 1789 làm cho mọi sinh hoạt của trường bị gián đoạn lần đầu tiên. Nhờ sự kiên trì của ĐC de Bonald trường mau chóng phục hồi các sinh hoạt vào giữa thế kỷ XIX. Ban Hát bấy giờ trở thành tổ chức âm nhạc đầu tiên của thành phố. Cuộc gián đoạn thứ hai xẩy ra vào năm 1969, khi tiểu chủng viện, nơi tuyển mộ các ca viên nhỏ bị đóng cửa,.

Đến năm 1974, theo lời khuyên sáng suốt của linh mục Marcel Godard, quản nihệm nhà thờ chánh tòa. Linh mục Jean-Francois Duchamp, giáo sư trường Saint Bernard bắt đầu luyện tập cho những em thích hát. Dần dần nhóm nhỏ này phát triển và lấy tên là Les Petits Chanteurs de Saint Bernard rồi sau thành Les Petits Chanteurs de Lyon.

Năm 1982, ĐHY Albert Decourtray vừa từ Dijon đến, tặng cho nhóm này danh hiệu Ban Hát Trẻ. Năm 1984, ngài đặt linh mục Duchamp làm quản nhiệm nhà thờ chánh tòa. Thế là bắt đầu một thời kỳ phát triển rực rỡ. Thời kỳ này Ban Hát hợp tác với trường Sainte Marie cho đến năm 1991 thì mở trường đào tạo ca viên hát trong nhà thờ.

2,3 Cấu trúc

Ban Hát Nhà Thờ được đặt dưới quyền vị quản nhiệm thánh đường. Vị này được ĐC giáo phận bổ nhiệm. Ban Hát được điều hành theo qui chế một hiệp hội chiếu theo bản luật năm 1901. Ban có một Hội Đồng Quản Trị gồm các vị đại diện của Tòa Tổng Gíám Mục, nhà thờ chánh tòa, nhà trường và các thành viên được tuyển chọn trong số các phụ huynh. Chủ tịch Hiệp Hội, ông Jacques Dumont điều hành toàn bộ công việc với sự hợp tác chặt chẽ của ông Giám Đốc. Hội có hai phó chủ tịch đặc trách việc liên lạc với gia đình các ca viên và với bên ngoài, một thư ký và một thủ quỹ lo sổ sách tiền bạc. Từ năm 1996, thêm một cô thư ký làm việc bán thời gian, lo tiếp khách và một số công việc khác.

Việc điều hành Ban Hát về mặt nghệ thuật được giao cho linh mục Duchamp. Có một Hội Đồng Âm Nhạc gồm một số người liên hệ đến công việc đào tạo hỗ trợ. Hiện nay Ban hát có 150 thanh thiếu niên chia làm bốn ca đoàn :[9]

Ca đoàn 4 : lớp 10-11, 6,7 tuổi, bậc khai tâm

Ca đoàn 3 : lớp 7-8, chừng 7-8 tuổi, giai đoạn dự bị

Ca đoàn 2 : lớp 6-7, chừng 8-9 tuổi, bậc trung cấp

Ca đoàn 1 : từ lớp 6 trở đi, chừng 10 tuổi hoặc trên 10 tuổi là lớp lớn.

Ca đoàn nam giới gồm các ca viên kỳ cựu.

Việc huấn luyện chia thành nhiều ban do nhiều huấn luyện viên phụ trách :

Huấn luyện âm nhạc : ông Francois Terrieux

Huấn luyện thanh nhạc : ông Emmanuel Magat

Lịch sử âm nhạc : bà Paule Delorme

Hợp xướng : linh mục Francois Duchamp.

2,3 Trang bị

Có hai phòng tập hát ngay trước nhà thờ chánh tòa, hai phòng hội, một phòng để sổ sách và một làm văn phòng. Ngoài ra, Ban Hát còn được sử dụng hai phòng nữa để giảng dạy trong khuôn khổ đào tạo. Có 4 dương cầm loại thông thường và một cái có “đuôi”, một quản cầm có 4 hàng phím, hai đàn điện tử và một dương cầm điện tử, một dàn âm thanh và dụng cụ vidéo cao cấp.

2,4 Cơ quan bảo trợ

Cơ quan bảo trợ chính yếu là giáo phận dưới quyền ĐTGM với sự trợ giúp của cha sở nhà thờ chánh tòa. Vị quản nhiệm thánh đường cũng là Giám Đốc Ban Hát, thành viên BTN giáo phận và Ban Quản Trị Viện Thánh Nhạc Lyon.

2,5 Các dịch vụ âm nhạc

2,5,1 Phụng vụ

Ban Hát nhận hát các buổi lễ của nhà thờ chánh tòa với các ca đoàn hỗn hợp : ca đoàn người lớn và ca đoàn chỉ gồm toàn thiếu nữ. Ít khi hay đặc biệt lắm các ca đoàn mới cùng có mặt chung trong một buổi lễ. Mỗi tháng hai lần Ban Hát nhận hát lễ Chúa Nhật ở nhà thờ chánh tòa. Khi nào ĐTGM tới cử hành lễ Giáng Sinh, Tuần Thánh, Hiện Xuống, lễ Các Thánh, Ban hát phải có mặt. Các chiều thứ ba hàng tuần, Ban Hát hát Kinh Chiều có giáo dân tham dự. Buổi hát này buộc phải được chuẩn bị chu đáo, ca viên phải có mặt đông đủ, bài hát được chọn lọc kỹ lưỡng và tập luyện công phu. Ngoài ra, Ban hát cũng tới các gia đình giúp việc hiếu hỷ. Đó cũng là một cách thế mang lại cho các gia đình niềm vui và sự an ủi.

Les Petits Chanteurs de Lyon là một Ban Hát được tổ chức qui mô và được sự bảo trợ chính thức của giáo phận. Khi giới thiệu Ban Hát này, tôi chỉ muốn nói một điều là Ban Hát dù nhỏ hay lớn cần được sự quan tâm và hỗ trợ của các cơ quan chức năng, đồng thời bản thân các ca đoàn cũng phải tổ chức và chấn chỉnh nội bộ không ngừng, nếu muốn là một ban hát có giá trị đích thật. Chúng ta chưa thể sánh được với những ban hát lâu đời và có tầm cỡ lớn như người ta ở nước ngoài. Chúng ta nhỏ và ít khả năng cũng như phương tiện thì hãy tổ chức và hoạt động theo khả năng mình có.

Xin dừng lại về các ca đoàn bên Tây để nói về các ca đoàn bên ta.

3. Các ca đoàn bên ta

Thời kỳ này có thể chia làm hai giai đoạn : giai đoạn I từ cuối năm 1975 đến sau lễ Giáng sinh năm 1980 và giai đoạn II từ 1980 đến nay

3,1 Giai đoạn I

Có thể nói giai đoạn này là thời kỳ nở rộ của các ca đoàn. Nhiều nhà thờ như Chúa Cứu Thế, Huyện Sĩ, Đắc Lộ, Tân Định, Thị Nghè vô hình trung trở thành nơi tụ họp và gặp gỡ của giới trẻ, nhất là nhà nguyện Đắc lộ ở đường Yên Đổ.[10] Người trẻ hồi đó đi nhà thờ chưa hẳn vì lòng tin hay đạo đức mà có lẽ vì vui, có đông người, có ca đoàn hát hay, có người mặc quần áo đẹp, hợp thời trang v.v… Đàng khác thời đó ít có chỗ nào để vui chơi giải trí, lại đang phải sống trong nỗi lo sợ. Bấy giờ các ca đoàn hát nhiều bài mới lạ mà lời ca và nhất là nhịp điệu gần với nhạc đời hơn là nhạc đạo. Ngoài ra, có nơi hát cốt cho người ta nghe thôi, chứ ít để ý đến hát để cầu nguyện và giúp cầu nguyện. Rốt cuộc, đi những lễ này, dường như người ta chỉ muốn nghe hát cho thích thôi. Vì vậy, có nơi trong phần đáp ca, hát hai bài hợp xướng một lúc và những bài đó chẳng ăn nhằm gì với đáp ca, cả về nội dung lẫn hình thức. Thời kỳ này có thể nói ai muốn hát gì thì hát, hát làm sao cũng được, chẳng ai lên tiếng hay đưa ra nhận xét nào, có chăng thì cũng riêng tư thầm kín vậy thôi.

3,2 Giai đoạn II từ sau 1980 đến nay

Một phần vì mấy ca đoàn tên tuổi như Cung Chiều, Y Nhã, Thái Hòa không còn sinh hoạt nữa, sau vụ Trung Tâm Đắc Lộ bị dẹp năm 1980, phần khác vì một số thanh niên thiếu nữ vượt biên, đi làm hay đi học, nên các ca đoàn thiếu người hoặc nếu có thì lại vướng vào nhiều công vệc khác, không có thời giờ rảnh rỗi bao nhiêu. Hơn nữa ca đoàn cũng không còn là nơi hấp dẫn và thu hút như trước. Nhiều nhà thờ bắt đầu hát cộng đồng và tỏ ra ít cần ca đoàn và ca đoàn cũng không còn đóng một vai trò quan trọng như xưa. Rồi vào năm 1987, có nhiều lời than phiền về việc hát xướng trong các nhà thờ đến tai Đức Cố Tổng Giám Mục Phao-lô Nguyễn văn Bình, khiến ngài lưu tâm và ra những thông cáo về Thánh Nhạc nhằm chấn chỉnh lại tình trạng nói trên.[11] Đây mới chỉ là một tiếng chuông báo động nhưng chưa đạt tới kết quả mong muốn, vì thiếu một sự hiểu biết về Thánh Nhạc nơi các ca đoàn và ca trưởng. Gần đây đã có một vài biến chuyển về việc hát đáp ca, nhưng các bài hát vẫn chưa được chọn lọc hoàn toàn chính xác và việc đệm đàn còn là một vấn đề nhức nhối. Vào nhiều nhà thờ bây giờ, người ta cảm thấy đau đầu nhức óc vì tiếng đàn và kiểu đệm đàn, khiến cho rất khó cầu nguyện và dường như không cầu nguyện đươc, vì sự ồn ào náo động của tiếng đàn và giọng hát. Vì thế, hiện BTN giáo phận đã mở những khóa dạy đàn dạy nhạc trong Trung Tâm Mục Vụ. Từ mấy năm qua, nhiều cuộc Đại Hội Thánh Nhạc toàn quốc đã được tổ chức tại Trung Tâm này, dưới sự chủ tọa của Đức Cha Chủ Tịch Ủy Ban Thánh Nhạc trực thuộc HĐGMVN, và sự điều hành tích cực của Ban Tổng Thư Ký, cùng với sự tham gia của các linh mục Trưởng Ban Thánh Nhạc các giáo phận và đông đảo nhạc sĩ sáng tác, ca trưởng, ca viên các ca đoàn. Sau mỗi cuộc Đại Hội là một đặc san Hương Trầm đúc kết các điều bản thảo và đưa ra những hướng dẫn thiết thực cho công việc hát xướng. Nhờ vậy, tình hình Thánh Nhạc đã được cải tiến và đang hướng tới một giai đoạn tốt đẹp hơn.

Dù thế, công việc hát xướng ở nhà thờ vẫn còn cần được các cha sở quan tâm và góp phần chấn chỉnh luôn mãi, vì đây là việc thờ phượng có liên hệ trực tiếp đến đời sống cầu nguyện của các tín hữu. Các ca viên cũng cần được động viên, hướng dẫn về Phụng Vụ và Thánh Nhạc như Ban Thánh Nhạc Việt Nam đã khởi xướng và thúc đẩy từ nhiều năm qua và nhũng cố gắng của Ban Thánh Nhạc thành phố qua 97 số báo Hát Lên Mừng Chúa, Tài liệu Thánh Nhạc, các lớp dẫn vào Thánh Nhạc, những băng nhạc Tam Nhật Vượt Qua, Thánh ca Mùa Giáng Sinh v.v…

Ca đoàn cũng như một cái cây. Cây không được tưới nước bón phân thì cây sẽ chết. Nếu được tưới nước bón phân mà không chăm sóc thường xuyên thì lá không đẹp và trái cũng chẳng ngon. Vì vậy, muốn ca đoàn phục vụ tốt thì họ đạo, đứng đầu là cha sở, cũng phải phục vụ tốt ca đoàn bằng sự lưu tâm, săn sóc, giúp đỡ, cổ võ, khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi cho ca đoàn phát triển về mặt kỹ thuật, hiểu biết chuyên môn cũng như tinh thần phục vụ. Không thể bỏ mặc ca đoàn mà lại đòi ca đoàn đáp ứng các yêu sách về Phụng Vụ và Thánh Nhạc. Phần đông các ca đoàn rất có thiện chí và tinh thần phục vụ. Sở dĩ còn những hạn chế và thiếu sót là vì ca đoàn chưa được huấn luyện và quan tâm cho đúng mức ; các ca trưởng cũng chưa đóng đúng vai trò của mình và nhiều cha sở viện cớ không biết hát, biết nhạc nên phó mặc cho ca đoàn xoay xở.

Kết luận

Nói tóm lại, các ca đoàn là những bộ phận không thể thiếu để phục vụ công việc thờ phượng. Muốn thế, các vị hữu trách cần quan tâm cho đúng mức và các ca viên cũng phải ý thức về sự cao quí của công việc này, vì đó thuộc phạm vi nhân đức thờ phượng, một dịch vụ bác ái và một sinh hoạt nghệ thuật. Vậy từ nay, ước mong các vị hữu trách quan tâm, huấn luyện, dìu dắt về phụng vụ và công việc thiêng liêng đạo đức cho các ca đoàn. Các ca viên cũng cần phân biệt nhạc đạo với nhạc đời và tuân hành giáo huấn cũng như kỷ luật của Hội Thánh về Thánh Nhạc để việc ca hát vừa làm đẹp cho buổi lễ, vừa nuôi dưỡng đời sống đức tin của các tín hữu. Làm thế nào để khi vào nhà thờ nghe hát, người ta không có cảm giác là vào một phòng trà hay một tụ điểm ca nhạc mà đến một nơi cầu nguyện, để tâm hồn được thanh thoát và tai được nghe những tiếng hát có sức biến đổi tâm hồn.

Lm. An-rê Đỗ Xuân Quế o.p.
adxuanque@gmail.com

Thứ Bảy, 30 tháng 6, 2012

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT 13 MÙA THƯỜNG NIÊN B (Mc 5, 21-43)




CHỮA LÀNH 
Sưu tầm
Để thực hiện thành công một điều gì, chúng ta phải đặt vào đó một phần của chúng ta hoặc là đời sống hoặc là tâm hồn đến nỗi sau đó, chúng ta cảm thấy kiệt quệ. Điều này đặc biệt đúng đối với việc chữa trị.

Chữa trị có thể làm cho người chữa bệnh kiệt sức và đau đớn. Hành động chữa trị tự nó thường là một dịp để đau khổ. Chúng ta không thể cất đi sự đau đớn của một người mà không đi vào nỗi đau ấy một cách nào đó và ở một mức độ nào đó, dù chỉ là nỗ lực để hiểu người bệnh và làm cho người bệnh cởi mở với mình. Một cách nào đó, người chữa bệnh phải chịu đau khổ.

Một đôi khi, điều khiến người ta trở thành người chữa bệnh là một kinh nghiệm chính mình đã bị đau và đã được chữa lành. Người chữa bệnh cần ý thức về sự dễ bị tổn thương của mình. Chính họ dễ bị tổn thương và đó là một phần lý do khiến họ chữa bệnh. Đức Giêsu hoàn toàn dễ cảm thương cho người khác. Người nhận đau khổ của người khác cho mình: Người chịu đau khổ với mỗi người.

Dù khi ở giữa đám đông, nếu có người nào chạm vào Người và được chữa lành, Người biết ngay. Tại sao lại như thế? Bởi vì mỗi sự chữa lành đều lấy đi của Người một điều gì đó. Trong ngôn ngữ của Tin Mừng: “năng lực từ Người thoát ra. Và Người cảm thấy năng lực ấy thoát ra”. Chính năng lực ấy và đức tin của người bệnh tạo ra sự chữa lành.

Thỉnh thoảng Đức Giêsu chữa lành một người và để người ấy lấy đi bớt năng lực của Người. Sự cao cả của Người là Người sẵn sàng trả giá cho việc chữa lành những người khác. Chúng ta theo bước chân của Người khi chúng ta hiến dâng chính mình để giúp đỡ những người khác.

Mỗi người chúng ta có thể làm công việc chữa lành nào đó nếu chúng ta cho phép mình trở nên công cụ của Người. Chúng ta có thể không có khả năng chữa trị, nhưng có khả năng chăm sóc. Và chăm sóc cũng thuộc phần việc chữa trị. Chúng ta băng bó vết thương, nhưng chính Thiên Chúa làm vết thương lành.

Tuy nhiên, mỗi hành động chăm sóc cũng đòi chúng ta phải trả giá. Năng lực thoát ra khỏi chúng ta. Nhưng chúng ta chớ để mình kiệt sức. Nếu chúng ta luôn tiếp xúc với Chúa năng lực trong chúng ta được phục hồi liên tục.

Có những người luôn giữ được niềm tự tin và tính lạc quan. Tính cách này trở thành một thứ thuốc bổ cho người bệnh. Năng lực thoát ra từ họ và đi vào những người khác. Họ sung sướng khi giúp đỡ những người khác, và giúp đỡ những người khác là chữa lành.

Ở một mức độ nào đó, chúng ta đều bệnh tật. Nhưng chúng ta có xu hướng che giấu bệnh tật và thương tích của chúng ta. Người phụ nữ đến với Đức Giêsu mang bệnh nặng và trong trường hợp của bà, bệnh tật quá rõ ràng. Nhưng người ta có thể bị bệnh tật mà không xuất hiện ra bên ngoài. Họ mang những thương tật vô hình – cảm giác mình bị bỏ rơi, thất bại, không có phẩm giá, cô đơn, cay đắng, hờn giận… Vì thế, tất cả chúng ta cần được chữa lành.

Và tất cả chúng ta có thể là những người chữa trị. Đời sống chúng ta luôn luôn xúc phạm đến đời sống của những người khác. Với một chút thiện cảm, chúng ta có thể chữa lành những tâm hồn mang thương tích. Với một chút chăm sóc, chúng ta có thể làm cho một tâm trí, bối rối được nhẹ nhõm. Với một chút thời gian, chúng ta có thể làm vơi nhẹ nỗi đau của một người cô độc. Thỉnh thoảng mỗi người chúng ta nên dừng lại và tự hỏi: “Điều gì thoát ra từ tôi qua công việc, hành vi, và những mối quan hệ – điều gây tổn thương hay điều giúp chữa lành?”.

Chữa lành không chỉ là nhiệm vụ dành cho cá nhân. Nếu chúng ta có thể tạo ra những cộng đoàn ở đó mọi người có thể qui tụ, cùng làm việc và nâng đỡ nhau, lúc đó sự chữa lành trở thành một phần của đời sống hàng ngày.
(tinmung.net)

Thứ Bảy, 23 tháng 6, 2012

LỜI CHÚA LỄ SINH NHẬT THÁNH GIOAN TẨY GIẢ (Lc 1, 57-66.80)


Làm chứng Chúa bằng lời nói và việc làm tốt đẹp!

Linh mục Emmanuen Nguyễn Vinh Gioang
Đồng thời với Chúa Giêsu, có một người thật lạ lùng: lạ lùng vì được thụ thai trong lòng một bà mẹ già đã quá tuổi sinh con; lạ lùng vì khi đang còn trong lòng mẹ, đã được sạch tội tổ tông; lạ lùng vì khi đang còn thanh niên, đã lên núi, sống cuộc đời tu trì khổ hạnh; lạ lùng vì khi được dân chúng hoan hô khen ngợi, xem như Đấng Cứu Thế, thì vẫn khiêm nhượng xưng mình là kẻ dọn đường cho Đấng Cứu Thế đến mà thôi; lạ lùng vì cái chết đầy anh dũng để bảo vệ luật Chúa. Đó là thánh Gioan Tẩy Giả mà Giáo Hội muốn chúng ta mừng lễ sinh nhựt trọng thể hôm nay.
 

Thánh Gioan Tẩy Giả làm chứng Chúa Cứu Thế bằng lời nói.
 
Trưóc khi Chúa Cứu Thế đến, thánh Gioan đã lớn tiếng rao giảng cho mọi người biết và yêu mến Chúa Giêsu, và dọn lòng mọi người tiếp rước xứng đáng Chúa Giêsu. Thánh nhân nói: "Hãy triệt hạ các đồi núi”, nghĩa là: hãy sống khiêm nhượng và hiền lành; "Hãy sửa thẳng những đường quanh co”, nghĩa là: hãy có ý ngay lành vì Chúa trong mọi công việc mình làm; "Hãy san bằng những đường gập ghềnh”, nghĩa là: hãy lánh xa những trở ngại làm chúng ta xa Chúa, như chạy theo danh vọng, ham mê tiền bạc, mê dắm dục vọng; "Hãy lấp đầy những hố sâu”, nghĩa là: hãy sống thánh thiện để đưa mình lên ngang hàng với địa vị cao sang của người làm con Chúa.

Mặc dầu được dân chúng quý trọng và xem như Đấng Cứu Thế, thánh Gioan Tẩy Giả vẫn luôn khiêm nhượng, cho mình chỉ là tiếng kêu thúc giục mọi người dọn đàng cho Chúa Cứu Thế đến: "Tôi là tiếng kêu trong rừng ; hãy dọn đàng cho Chúa Cứu Thế đến”.

Thánh Gioan Tẩy Giả còn xem mình như người đầy tớ của Chúa Cứu Thế mà thôi: "Sau tôi, sẽ có một Đấng đã có trước tôi. Ngài cao trọng hơn tôi, đến đỗi dù cởi dây giày cho ngài, tôi cũng không xứng đáng ”.

Và khi thấy Chúa Cứu Thế đến, thánh Gioan Tẩy Giả hô to: "Đây Chiên của Thiên Chúa! Đây Đấng xóa tội trần gian!”

Thánh Gioan Tẩy Giả làm chứng Chúa Cứu Thế bằng việc làm tốt đẹp.

Không những làm chứng Chúa Cứu Thế bằng lời nói, thánh Gioan Tẩy Giả còn làm chứng bằng việc làm, nghĩa là bằng đời sống đạo đức thánh thiện của mình và bằng chính máu mình đổ ra.

Đời sống của thánh Gioan Tẩy Giả rất thánh thiện, đến đổi dân chúng cho rằng chính ngài là Đấng Cứu Thế đang đến. Ngay cả những hạng biệt phái, luật sĩ, tư tế cũng ngạc nhiên, sai người đến hỏi ngài có phải là Đấng Cứu Thế không. 

Mặc dầu được mọi người kính trọng như một vị thánh, thánh Gioan Tẩy Giả vẫn luôn khiêm nhượng, áo thì mặc lông lạc đà, của ăn là châu chấu và mật ong rừng. Ngài tự xưng mình là tiếng kêu trên rừng, là kẻ đầy tớ hèn mọn nhất của Đấng Cứu Thế.

Mặc dầu bị các kẻ kiêu ngạo biệt phái, luật sĩ, tư tế từ chối không tin, thánh Gioan Tẩy Giả vẫn nêu cao luật Chúa và nói cho họ biết cơn giận của Chúa sẽ đến tiêu diệt họ như tiêu diệt những cành cây khô cằn cỗi.

Mặc dầu vua Erode đầy quyền uy cao sang, nhưng khi vua lỗi luật Chúa và làm gương xấu, thánh Gioan Tẩy Giả cũng vẫn lên án tội lỗi của vua, dù bị giam tù và phải chết thê thảm.

Bằng lời nói và bằng việc làm, thánh Gioan Tẩy Giả đã làm tròn sứ mạng chứng nhân cho Chúa Cứu Thế. Chúng ta hãy noi theo gương thánh nhân để làm chứng Chúa bằng lời nói và bằng việc làm của mình.

Chúng ta hãy làm chứng Chúa bằng lời nói.

Lời nói là đặc biệt của con người, vì thế, con người được định nghĩa là con vật biết nói. 

Nhưng lời nói của chúng ta có thể tốt, cũng như có thể xấu. Khi chúng ta nói những lời tốt, chúng ta xây dựng, chúng ta đem lại sự vui vẻ cho kẻ khác, chúng ta đem lại sự hòa bình cho mọi người. Những khi đó, chúng ta làm chứng Chúa bằng lời nói. 

Trái lại, khi chúng ta nói những lời xấu, chúng ta phá đổ, chúng ta đem lại sự buồn phiền cho kẻ khác, chúng ta gây nên thù, nên oán cho người ta.

Để làm chứng Chúa bằng lời nói, chúng ta không nói những lời gây buồn phiền cho kẻ khác, nhưng chúng ta nói những lời đem lại sự vui vẻ cho mọi người. Chúng ta không nói những lời chỉ trích, phá đổ, nhưng chúng ta nói những lời yêu thương, xây dựng. Chúng ta không nói những lời tục tĩu nhớp nhúa, nhưng chúng ta nói những lời trong sạch, thanh cao. Chúng ta không nói những lời bi quan, lên án, nhưng chúng ta nói những lời cao thượng, những lời khuyến khích và an ủi.

Chúng ta hãy làm chứng Chúa bằng việc làm tốt đẹp.

Lời nói không có giá trị cho bằng việc làm. Lời nói qua đi, nhưng gương lành thì tồn tại. Lời nói không làm cho ai theo chúng ta. Chỉ có gương tốt mới lôi kéo kẻ khác theo chúng ta. Để làm chứng Chúa bằng việc làm, chúng ta hãy luôn luôn treo cao gương tốt.

Trước hết, chúng ta hãy làm gương tốt trong gia đình chúng ta. Cha mẹ làm gương tốt cho con cái, vợ chồng làm gương tốt cho nhau, anh chị làm gương tốt cho em út. Mọi người trong gia đình hãy thi đua sống thánh thiện, thi đua giữ luật Chúa, thi đua làm việc lành phước đức. Hạnh phúc thay cho những gia đình như vậy ! Gia đình họ được bằng an, vui vẻ. Gia đình họ được đầy ơn Chúa. Gia đình họ trở thành thiên đàng trên mặt đất nầy.

Rồi chúng ta hãy làm gương tốt cho mọi người xung quanh mình. Xung quanh chúng ta, có nhiều kẻ còn chưa biết Chúa. Xung quanh chúng ta, có những kẻ lơ đạo, bỏ đạo, nghịch đạo. Tất cả những người nầy sẽ được ảnh hưởng tốt khi thấy gương tốt của chúng ta. Quá trình của một cuộc trở lại, phần nhiều là: thấy trước, rồi tin sau. 

Gương tốt của chúng ta ảnh hưởng trên kẻ khác, dẫu nhiều khi chúng ta không biết. Khi chúng ta nâng mình lên cao bằng đời sống gương tốt, chúng ta nâng mọi người lên theo, chúng ta nâng cả thế giới lên theo. Chúa dạy chúng ta là ánh sáng chiếu soi mọi người. Chúa dạy chúng ta là muối làm cho mặn mòi kẻ khác. Theo Đạo Chúa, không phải chỉ là Giữ Đạo, mà còn phải Sống Đạo và Truyền Đạo bằng đời sống gương tốt của mình.

Mọi người chúng ta hãy bắt chước gương thánh Gioan Tẩy Giả, làm chứng Chúa Giêsu bằng lời nói của mình, bằng việc làm của mình, bằng gương tốt của mình, để giới thiệu Chúa Giêsu cho kẻ khác, để đem Chúa Giêsu đến cho kẻ khác, để làm cho mọi người biết Chúa Giêsu và yêu mến ngài.

(tinmung.net)

Chủ Nhật, 17 tháng 6, 2012

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT 11 MÙA THƯỜNG NIÊN NĂM B (Mc 4, 26-34)


 GIEO LỜI YÊU THƯƠNG

Malcolm Dolkoff là một cậu bé nhút nhát, dễ bị tổn thương. Cậu có rất ít bạn và luôn phải lủi thủi một mình.

Một lần, cô giáo đọc cho cả lớp một đoạn truyện ngắn. Loài vật là bạn thân của con người, sau đó phân công mỗi học sinh tự viết đoạn kết cho câu chuyện. Dolkoff thích lắm, ngay chiều hôm ấy cậu đã hoàn thành bài viết của mình. Nhưng mãi cậu mới có đủ tự tin đem nộp truyện của mình cho cô giáo vào buổi học tuần sau.

Những gì cậu viết cũng như điểm số mà cô giáo đã cho không hề quan trọng. Đối với cậu, điều quan trọng nhất mà cũng là điều cậu nhớ nhất lại chính là bốn chữ cô giáo đã phê: “Em viết hay lắm!” Chỉ bốn chữ mà cũng đủ thay đổi toàn bộ cuộc đời cậu bé. Trước khi nhận được bốn chữ đó, cậu chưa bao giờ có khái niệm về bản thân hay những điều mình đã làm. Còn sau buổi học hôm ấy, cậu đã chạy thật nhanh về nhà, ngồi ngay vào bàn và bắt đầu viết một câu chuyện ngắn, một câu chuyện về tất cả những điều cậu đã từng mơ tới và không bao giờ dám nghĩ mình có thể biến những giấc mơ đó thành hiện thực.

Cậu viết ngày càng nhiều hơn và cứ được một chuyện cậu lại mang ngay tới cho cô giáo của mình nhận xét.

Nhiều năm trôi qua, Malcolm Dalkoff đã trở thành một nhà văn nổi tiếng thay cho cậu bé tự ti ngày nào. Cậu trở về thăm trường cũ và thăm lại cô giáo ngày xưa của mình. Điều cậu phải cảm ơn cô không phải vì cô đã trở thành một người bạn của cậu mà chính là bốn chữ đầu tiên cô đã từng phê: “Em viết hay lắm!” bởi những chữ ấy đã có thể thay đổi cả một cuộc đời.

Có những lời nói, cử chỉ tưởng như vô tình lại trở thành nguyên nhân thay đổi cho cả một đời người. Biết bao con cái rơi vào sự tự ti mặc cảm khi cha mẹ vô tình lập lại lời chê trách đối với con. Biết bao con người trở thành hung dữ khi cha mẹ luôn gieo vào tâm trí trẻ thơ những lời nói việc làm chất chứa đầy hiềm khích, bất công. Và ngược lại, biết bao con người đã bẻ gãy ổ khóa tự ti mặc cảm để can đảm vào đời, khi nhận được một sự khích lệ, một sự cảm thông từ những người thân. Biết bao con người đã hoàn thiện nhờ vào gương lành của tha nhân đã gieo vào lòng họ những lời nói, những việc làm tốt. Những lời nói, những việc làm của ta tưởng như vô tình nhưng thực ra nó vẫn âm thầm gieo vào lòng những người chung quanh ta để có thể biến đổi họ theo cách sống của chúng ta.

Cha ông ta vẫn thường nói “Lời nói chẳng mất tiền mua - Lựa lời mà nói cho vừa lòng nhau”. Nói cho vừa lòng nhau không phải để lấy lòng nhau hay lừa dối lòng mình. Nhưng là lựa lời để nói. Nói để xây dựng con người. Nói để giúp họ thăng tiến. Đừng dùng lời nói làm đau lòng người khác, và cũng đừng dùng lời nói để kết án anh em. Một lời nói có thể thay đổi cả đời người. Hãy trao tặng cho anh em những lời nói thật chân tình và đầy ắp yêu thương. Lời nói không mất tiền mua, không phải để chúng ta phung phí bừa bãi, nhưng biết quý trọng từng lời. Lời nói thể hiện nét đẹp văn hóa nơi con người. Hãy biết chắt lọc ngôn ngữ. Hãy làm cho lời nói của ta có giá trị bằng cách biết dùng lời cho vừa lòng nhau.

Lời Chúa hôm nay mời gọi chúng ta hãy ra đi gieo vãi lời Chúa. Gieo trong kiên trì. Dù đêm hay ngày. Người gieo giống luôn gieo vào nhân thế hạt giống của tin mừng, hạt giống của yêu thương và hạnh phúc. Cô giáo của Malcolm Dolkoff nếu không gieo vào lòng ông lòng tin và nghị lực thì không có một nhà văn tài ba. Người ky-tô không gieo lời Chúa thì làm sao có cánh đồng lúa bát ngát bông lúa vàng là tâm hồn các tín hữu?

“Đêm hay ngày, người ấy có ngủ hay thức, thì hạt giống này nảy mần và mọc lên, bằng cách nào thì người ấy không biết”. Sự kỳ diệu của hạt giống là vẫn âm thầm lớn lên theo quy luật tự nhiên và sẽ có một ngày nó trở thành cây cao bóng cả cho đàn chim trú ngụ. Người ky-tô hãy gieo trong kiên trì, gieo với niềm cậy trông để nhờ ơn Chúa lời ta nói, việc ta làm sẽ sinh hoa kết trái nơi môi trường chúng ta đang sống.

Xin Chúa giúp chúng ta luôn gieo vãi yêu thương trong hành trình cuộc sống của chúng ta, để mỗi bước chân chúng ta đi luôn để lại dấu ấn của yêu thương và hy vọng cho nhân thế. Amen 

Lm.Jos Tạ Duy Tuyền 
(tinmung.net)

Thứ Bảy, 16 tháng 6, 2012

NGÀY TRUYỀN THỐNG CÁC CA ĐOÀN LẦN I


Trong dịp Năm Thánh 50 Năm Thành Lập Giáo xứ, các ca đoàn Giáo xứ Thuận Phát đã nhận Thánh Antôn Pađôva là Bổn Mạng chung cho tất cả các ca đoàn trong giáo xứ và chọn ngày Mừng Lễ Bổn Mạng 13.6 hàng năm làm ngày truyền thống, bắt đầu từ năm 2012.

Năm nay vì nhà thờ đang trong thời gian xây mới nên Ngày Truyền Thống lần đầu tiên đã được tổ chức giản đơn với một Thánh Lễ Mừng Kính Thánh Antôn và cầu nguyện cho các ca đoàn vào lúc 17g30 Thứ Tư 13.6.2012. Cha Phanxicô Xaviê Nguyễn Văn Nhứt, OP giảng và dâng lễ.

Thứ Tư, 13 tháng 6, 2012

MỪNG LỄ BỔN MẠNG

13.6.2012
HÂN HOAN MỪNG LỄ
THÁNH ANTÔN PAĐÔVA,
LINH MỤC, TIẾN SĨ HỘI THÁNH


BỔN MẠNG GIÁO XỨ
BỔN MẠNG CÁC CA ĐOÀN
NGÀY TRUYỀN THỐNG CÁC CA ĐOÀN
GIÁO XỨ THUẬN PHÁT

Chủ Nhật, 10 tháng 6, 2012

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT MÌNH MÁU THÁNH CHÚA KITÔ NĂM B (Mc 14, 12-16.22-26)



MÌNH MÁU THÁNH CHÚA


Con quỳ suy niệm trước nhan Ngài

Tình Ngài dâng hiến trọn cho ai?

"Cứu Nhân Thập Tự treo dâng hiến

Độ Thế Dọc Ngang gạch nối dài"

"Máu Thánh nuôi hồn tươi sự sống

Thần Lương bổ sức chẳng tàn phai"

Lạy Chúa! Giêsu trong Thánh Thể

Hồn con thờ kính suốt đêm ngày.


 

Trầm Hương Thơ 07.06.2012
Đại lễ Kính Mình Máu Thánh Chúa  

(thanhlinh.net) 
 

Chủ Nhật, 3 tháng 6, 2012

MỘT CÂU CHUYỆN CÓ HẬU


Cuộc đời đẫm lệ của mẹ hoàng tử nhạc Pop Justin Bieber

Là mẹ của Justin Bieber, hoàng tử nhạc Pop người Canada và được liệt vào danh sách những người phụ nữ giàu có nhất trên thế giới, hiếm ai có thể ngờ rằng Pattie Mallette đã phải trải qua một thời tuổi thơ không êm đềm.

Từng bị cưỡng hiếp, nghiện rượu, ma túy, trộm cắp để kiếm sống và trở thành mẹ ở tuổi 18, nhưng nhờ có lòng tin và khao khát về một cuộc sống tươi đẹp, người mẹ ấy đã vượt qua tất cả mọi trở ngại để vươn lên và giúp con có được sự nghiệp thành công như hiện nay.


Người phụ nữ với tuổi thơ đầy bất hạnh

Là con thứ trong một gia đình nghèo có hai người con ở Canada, ngay từ khi ra đời, chưa một ngày nào Pattie được hưởng không khí gia đình đầm ấm với những bữa cơm ngon, những phút giây hạnh phúc bên bố mẹ, ngược lại, bà luôn phải sống trong nỗi phấp phỏng, lo âu, những nỗi đau tinh thần và thể xác dồn nén.

Cha mẹ bà vốn sống không hòa thuận, họ liên tục gây gổ, chửi mắng nhau, thậm chí, mẹ bà thường xuyên bị cha đánh đập và lạm dụng tình dục cho đến khi ông qua đời, năm đó Pattie tròn 3 tuổi. Không lâu sau, mẹ lại tái hôn.

Những tưởng cuộc sống của ba mẹ con sẽ được sung sướng, không ngờ, người cha dượng còn tồi tệ hơn nữa và đây cũng chính là địa ngục trần gian đã khiến cuộc đời của cô bé Pattie tội nghiệp rơi vào ngõ cụt.

Khi Pattie 5 tuổi, người chị gái qua đời trong một tai nạn giao thông thảm khốc, cũng thời gian đó, cô bé đã bị cha dượng cưỡng hiếp. Sự việc này kéo dài trong 5 năm liền.

Ở tuổi đó, Pattie bé nhỏ không ý thức được chuyện gì đang xảy ra nhưng những nỗi đau đớn, sợ hãi trong tâm hồn cô bé cứ chất chồng lên theo năm tháng đã khiến cô ngày càng trở nên chai lỳ, sống bất cần đời và coi thường tất cả.

Ở trường, Pattie không chơi được với ai ngoài đám bạn hư hỏng thường tụ tập uống rượu, hít ma túy rồi trộm cắp.

14 tuổi, Pattie bỏ nhà theo đám bạn đầu đường xó chợ và sống chung với 4 nam thanh niên khác trong vài năm. Cuộc sống của cô lúc đó tiếp diễn theo một vòng luẩn quẩn – hành hung, cướp bóc để có tiền phục vụ nhu cầu rượu chè, ma túy và tình dục.

Đến năm 17 tuổi, Pattie đã nếm trải đủ các hương vị đắng cay nhất của cuộc đời: Cô đơn, mất mát, bị xa lánh, khinh bỉ,…

Những lúc say thuốc, say rượu, cô gái không cảm nhận được nỗi đau về thể xác và tinh thần, nhưng nhiều đêm không ngủ, đối diện với những ký ức tuổi thơ rồi viễn cảnh tương lai mờ mịt, cô bé luôn tự dằn vặt bản thân mình.

Pattie không biết tương lai của mình sẽ đi về đâu khi trong tay không có nghề nghiệp gì. Nhìn quanh, cô chẳng có lấy nổi một người bạn tử tế. Rồi đây, ai sẽ có đủ can đảm để gắn bó cuộc đời với một cô gái giang hồ?

Càng nghĩ, Pattie càng cảm thấy thất vọng về bản thân mình. Một chiều lang thang trên đường phố đông đúc nhìn dòng người qua lại, Pattie bỗng cảm thấy lạc lõng và cô khóc. “Mình sống vì ai, vì cái gì? Có ai cần mình không?”, Pattie nghĩ.

Và ngay lúc đó, cô muốn được chết. Chặn đầu chiếc xe tải đang trờ tới, những tưởng cuộc đời cô bé tội nghiệp đã chấm dứt nhưng may mắn là tài xế lái chiếc xe tải đó đã phanh gấp kịp thời và điều khiển chiếc xe lao vào thanh chắn đường.

Mở mắt ra, Pattie thấy mình đang nằm trong phòng hồi sức cấp cứu của một bệnh viện địa phương, không ai chăm sóc.

Tìm được mục đích sống nhờ lòng tin

Nằm trong bệnh viện, Pattie mới thấm thía nỗi cô đơn hơn bao giờ hết. Xung quanh cô toàn những người xa lạ nhưng họ luôn có người thân hoặc bạn bè ở bên.

Còn cô, ngay từ lúc được đưa vào bệnh viện này - “Chắc cũng được mấy ngày” - cô nghĩ thầm – “Chẳng có một ai đến thăm nom”. Cô gái gan lỳ là vậy lúc này bỗng trở nên mềm yếu. Những giọt nước mắt bắt đầu lăn dài.

Trong một lần đến thăm bệnh viện, một linh mục tốt bụng đã biết câu chuyện cô gái trẻ tự tử. Từ đó, ông thường xuyên đến thăm Pattie. Mỗi lần ghé thăm, ông lại mang theo rất nhiều thức ăn ngon và một bông hoa hồng, ông nói đó là đóa hoa Chúa muốn gửi cho Pattie.

“Con muốn tự tử vì không muốn sống nữa? Con thực sự không muốn có mặt trên cõi đời này nhưng con có biết rằng Chúa đã tạo ra con với một mục đích và Ngài có một kế hoạch dành cho con.

Tại sao con không tiếp tục sống và cho Chúa một cơ hội để hoàn thành kế hoạch của Ngài và chờ xem những gì Ngài ban thưởng cho con? Hãy tin tưởng vào Chúa và mọi điều tốt đẹp nhất sẽ đến với con, ta hứa” - Pattie nhớ như in những lời vị mục sư nọ nói.

Đầu tiên khi nghe những lời đó, Pattie cảm thấy không thoải mái và đôi mắt cô nhìn lơ đãng lên trần nhà. Trong sâu thẳm trái tim, cô đã nghĩ rằng ông ta nói về Chúa quá nhiều.


Tuy nhiên, nhiều ngày trôi qua, những lời nói của vị mục sư nọ như ngấm vào từng mạch máu đang chảy trong huyết quản của cô, khiến cô hoàn toàn thay đổi suy nghĩ và Pattie nhận ra rằng, cuộc đời này vẫn còn đáng sống và đẹp biết bao.

Ra khỏi bệnh viện, Pattie xin vào tá túc trong một nhà thờ. Cô không tìm đến những người bạn giang hồ nữa, thay vào đó, hàng ngày, cô tìm sự thanh thản trong nhà nguyện.

Nhưng 8 tháng sau, cuộc sống của Pattie lại tiếp tục bị đảo lộn bởi cô phát hiện mình đã mang thai sau một lần đi quá giới hạn với Jeremy Bieber, một người thợ mộc 19 tuổi có lý lịch không mấy sáng sủa.

Anh này thường xuyên uống rượu say xỉn rồi gây sự với những người xung quanh và đã nhẵn mặt với các trạm công an địa phương.

18 tuổi, Pattie sinh hạ được một bé trai kháu khỉnh đặt tên là Justin. Dù còn trẻ nhưng vì con, cả Pattie và Jeremy đều mong muốn sẽ cùng xây dựng một tổ ấm hạnh phúc.

Tuy nhiên, cũng như bao cặp đôi trẻ tuổi khác, họ không bao giờ nhường nhịn nhau, những cuộc tranh cãi nảy lửa thường xuyên xảy ra và họ đều nhận ra một điều: Họ chưa sẵn sàng với cuộc sống gia đình. Pattie và Jeremy chia tay vào tháng 4/1995 khi Justin mới được 13 tháng tuổi.

Người mẹ đơn thân nổi tiếng nhất thế giới

Sinh con ở lứa tuổi “ăn chưa no, lo chưa tới”, không người thân, không họ hàng, không nghề nghiệp, Pattie phải là một người phụ nữ cực kỳ bản lĩnh mới dám một mình gánh trách nhiệm nuôi con. Sau những ngày dài khóc ròng, Pattie đã có được suy nghĩ tích cực hơn.

Chúa đã ban cho cô một món quà vô cùng quý giá, đó là cậu con trai Justin, vậy tại sao cô không sống vui vẻ và trân trọng những gì mình có. Cuối cùng, cô cũng nhận ra rằng Justin chính là mục đích sống duy nhất của cuộc đời cô và cô quyết tâm sẽ nuôi dưỡng bé nên người.

Tuy nhiên, để nuôi được một đứa trẻ không phải là việc dễ dàng, đặc biệt là với một cô gái trước đó chỉ biết ăn chơi lêu lổng, nghiện rượu, ma túy và không có việc làm như Pattie. “Thậm chí lúc đó tôi không biết bồng bế và cho con ăn như thế nào” - bà Pattie nhớ lại. Khó khăn cứ thế chồng chất khó khăn.

Nhờ sự giúp đỡ từ phía nhà thờ, Pattie thuê một căn hộ nằm trong một khu nhà cao tầng cũ cho hai mẹ con. Nói là căn hộ nhưng thực ra đó chỉ là một căn phòng tồi tàn và chật hẹp, chật đến nỗi Justin phải cất chiếc xe đạp vào trong phòng bếp vì phòng khách không còn đủ chỗ.

Thậm chí hai mẹ con cũng không có nổi một chiếc giường để nằm và trong phòng lúc nào cũng đầy chuột, tủ lạnh thường xuyên không có thức ăn.

Lúc này đây, không có đủ tài chính để chi trả cho cuộc sống, người mẹ trẻ đã quyết tâm bỏ thói quen dùng rượu và thuốc. Thời gian đầu thật khó khăn đối với Pattie bởi không dễ gì người ta có thể từ bỏ những thói quen thường xuyên diễn ra trong một thời gian dài.

Nhưng hàng ngày nhìn con khóc ngằn ngặt vì đói, bé cũng không có nổi một món đồ chơi, lòng người mẹ trẻ đau thắt lại và cô càng có quyết tâm hơn.

Sau rất nhiều nỗ lực tưởng không thể vượt qua, Pattie đã bỏ được rượu và thuốc. Cô cũng tìm được việc một công việc làm ca đêm trong một tòa cao ốc. Với đồng lương ít ỏi, cô không dám chi tiêu bất cứ thứ gì cho mình mà luôn dành dụm từng đồng một cho Justin.

Có những thời điểm, cô phải làm cùng một lúc 2 công việc để có thể vừa chi trả tiền nhà, vừa nuôi con. Cuộc sống dù khổ cực nhưng Pattie luôn nghĩ tới tương lai phía trước rằng con cô sẽ có một cuộc sống tốt hơn nhiều với cuộc sống mà cô đã trả qua.

Tháng 2/1997, 3 tuần sau sinh nhật lần thứ 3 của Justin, Jeremy bất ngờ tìm đến đòi quyền thăm con. Anh ta đã hứa bỏ rượu và không dùng thuốc khi ở cùng cậu bé.

Đầu năm 1998, anh này đòi tăng số lần thăm Justin và được ngủ qua đêm cùng cậu bé nhưng Pattie không đồng ý bởi cô nhận thấy Jeremy vẫn thường xuyên có những hành động bạo lực, vẫn uống rượu và dùng thuốc ngay cả khi ở cùng Justin.

Cuộc chiến tranh giành quyền giám hộ của họ phải nhờ tới sự can thiệp của tòa án. Cuối cùng, vì lòng thương con vô bờ bến và sự đấu tranh không mệt mỏi vì sự an toàn của con, Pattie thắng kiện.

Năm Justin lên 4 tuổi, Pattie nhận ra cậu bé rất có năng khiếu về âm nhạc. Cô đã thu âm một bản nhạc do Justin hát rồi đẩy lên các trang mạng xã hội. Thật không ngờ, bài hát đó đã nhanh chóng lan truyền trong cộng đồng mạng và nhận được những phản hồi tích cực.

Pattie lại dành dụm tiền để cho con theo học một lớp thanh nhạc. Đây cũng chính là tiền đề giúp Justin trở thành sao “bự” như hiện nay.

Năm Justin lên 5 tuổi, thời điểm khó khăn nhất của Pattie khi cô không có khả năng tài chính và chẳng có ai thân thích để chia sẻ thì may mắn thay, hai mẹ con được một gia đình người Anh tốt giúp đỡ. Họ nhận Justin làm con nuôi.

Cha mẹ nuôi của Justin đối xử với cậu bé không khác gì con ruột. Ở với họ, cậu bé được cho đi học và giáo dục nghiêm khắc. Cuộc sống của hai mẹ con Justin đã tốt đẹp hơn nhờ đó.

Khi Justin 14 tuổi, các video ca nhạc của cậu được mẹ tải lên youtube được nhiều người biết đến và ngay lập tức, cậu bé trở thành hiện tượng của làng âm nhạc thế giới. Hiện tại, Pattie Mallette, được mệnh danh là bà mẹ đơn thân nổi tiếng nhất thế giới luôn sát cánh bên con trai mọi lúc mọi nơi.

Bà ủng hộ con trong tất cả các đêm diễn, thức đêm chuẩn bị đồ cho con trong những chuyến lưu diễn dài ngày, kiểm soát lịch làm việc cũng như thói quen sinh hoạt và việc học hành của con.

Pattie cũng vừa xuất bản một quyển sách có tựa đề “Nowhere but Up” kể về những năm tháng tuổi thơ cơ cực, những khó khăn trong việc làm mẹ và nuôi dạy Justin.

“Qua câu chuyện của mình, tôi muốn gửi một thông điệp đến các bạn đã và đang rơi vào hoàn cảnh tương tự một thông điệp rằng dù bạn có bị nhấn chìm trong những hoàn cảnh éo le nhất của cuộc đời thì cũng đừng vội tuyệt vọng. Hãy hy vọng và luôn tin tưởng vào một tương lai tốt đẹp hơn” - bà Pattie, hiện đã 36 tuổi chia sẻ.
 
(bài do 1 người bạn gởi cho chị Tâm)
 

Thứ Bảy, 2 tháng 6, 2012

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT CHÚA BA NGÔI NĂM B (Mt 28, 16-20)



HIỆP NHẤT TRONG YÊU THƯƠNG

Linh mục Inhaxiô Trần Ngà
Từ ngày cắp sách vào lớp một, mỗi học sinh đều được học bài toán: 1+1+1 = 3 và nếu làm đúng như vậy thì lúc nào cũng được điểm tối đa. Trái lại, nếu có em nào làm phép tính: 1 + 1 + 1 = 1 thì sẽ bị cô giáo cho điểm O và bị phê là ngu xuẩn.

Thế nhưng trong một gia đình đầm ấm yêu thương thì 1 + 1 + 1 không còn là 3, mà chỉ là 1.

Hiệp thông trong gia đình

Trước đây, anh Bắc ở Hà-nội, chị Nam ở Sai-gòn, hai người ở hai phương trời cách biệt. Anh và chị là hai “ngôi vị” hoàn toàn xa lạ.

Về sau, hai người cùng vào làm trong cùng một công ty nên có nhiều cơ hội gặp gỡ và đôi bên cảm thấy ý hợp tâm đầu. Tình yêu của anh chị lớn lên từng ngày và với thời gian, anh chị yêu thương nhau sâu đậm đến nỗi người nầy không thể sống hạnh phúc nếu thiếu vắng người kia.

Do tình yêu thúc đẩy, anh chị tiến đến hôn nhân. Lúc nầy hơn bao giờ hết, anh chị cảm thấy mình hoàn toàn thuộc về nhau: cùng chung một tổ ấm, chung một tình yêu, chung niềm vui nỗi buồn, chung một ước mơ và một niềm hy vọng… Họ không còn là hai mà là một đúng như nhà thơ Tản Đà nhận định: “Mình với ta tuy hai mà một; ta với mình tuy một mà hai.”

Chính Chúa Giê-su cũng nhìn nhận rằng họ chỉ còn là một mà thôi: “Người nam sẽ lìa bỏ cha mẹ mà gắn bó với vợ mình và cả hai sẽ thành một xương một thịt. Như vậy, họ không còn là hai, nhưng chỉ là một xương một thịt.” (Mat-thêu 19, 5-6)

Rồi tình yêu của anh chị đơm bông kết trái: một đứa con yêu quý chào đời!

Giờ đây tuy trong nhà có ba người hay ba “ngôi” (=ba vị), nhưng tình yêu thương thắm thiết đã nối kết cả ba nên một. Họ cảm thấy hoàn toàn thuộc về nhau. Họ cảm thấy mình không còn là ba nhưng chỉ là một: hạnh phúc của người nầy cũng là hạnh phúc của người kia; khổ đau của mỗi người cũng là nỗi đau chung của cả gia đình.

Mặt khác, tình yêu và mức độ hiệp thông tỉ lệ thuận với nhau: khi càng yêu thương nhau hơn thì mức độ hiệp thông càng bền chặt hơn và ngược lại, khi ghét bỏ nhau, người ta cảm thấy hoàn toàn xa cách dù sống chung dưới một mái nhà. Lúc ấy, vợ, chồng và con cái trong nhà không còn là một mà là ba.

Như thế tình yêu là phép mầu nối kết nhiều người nên một. Những người yêu thương nhau được liên kết nên một với nhau nhưng vẫn không đánh mất bản ngã của mình.

Hiệp thông giữa Ba Ngôi Thiên Chúa

Hình ảnh một gia đình đầm ấm yêu thương hiệp nhất thường được Giáo Hội sử dụng để diễn tả mầu nhiệm Ba Ngôi Thiên Chúa.

Trong thư mục vụ gửi cộng đồng dân Chúa năm 2002, Hội Đồng Giám Mục Việt Nam nhắc nhở các tín hữu rằng: “Chính sự hiệp thông mật thiết trong gia đình Kitô giáo là hình ảnh hiệp thông giữa Ba Ngôi Thiên Chúa” (số 6)

Khi nhìn vào một gia đình có “ngôi cha”, “ngôi mẹ” và “ngôi con” hiệp thông với nhau cách mật thiết, chúng ta hiểu được phần nào sự hiệp thông giữa Ba Ngôi Thiên Chúa.

Tuy nhiên, vì tình yêu giữa Ngôi Cha, Ngôi Con và Thánh Thần mênh mông như đại dương, trong khi tình yêu của các ngôi vị trong gia đình chỉ bằng giọt nước; và vì mức độ hiệp thông tỉ lệ thuận với mức độ yêu thương, nên sự hiệp thông giữa Ba Ngôi Thiên Chúa là vô cùng mật thiết so với sự hiệp thông còn quá mong manh giữa các thành viên trong gia đình.

Chúa Giê-su mời gọi sống hiệp thông theo mô hình Ba Ngôi

Được hiệp thông nên một trong yêu thương là một hạnh phúc tuyệt vời nên Chúa Giê-su muốn các môn đệ của Người chung chia hạnh phúc ấy. Vì thế, hôm xưa trong bữa tiệc ly, Người thành khẩn cầu xin cho các môn đệ: “Lạy Cha, xin cho tất cả chúng nên một, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha…. để họ được nên một như Chúng Ta là một. Con ở trong họ và Cha ở trong Con, để họ được hoàn toàn nên một”. (Ga 17, 20-23)

Và hôm nay, Chúa Giê-su hướng nhìn về mỗi thành viên trong gia đình chúng ta và cầu xin với Chúa Cha: “Lạy Cha, xin cho người cha, người mẹ và đứa con nầy nên một, như Cha ở trong Con và Con ở trong Cha.”
Rồi Người cũng hướng về mỗi tín hữu trong Hội Thánh và tha thiết khẩn cầu: “Lạy Cha, xin cho các tín hữu nầy được gắn bó nên một trong yêu thương như Chúng Ta là một.”.

Lạy Chúa Giê-su,

Xin cho chúng con cảm nhận rằng bí quyết để được hạnh phúc tuyệt vời là cùng nhau sống yêu thương gắn bó nên một như Ba Ngôi Thiên Chúa, nhờ đó mỗi thành viên trong gia đình và cộng đoàn sẵn sàng xoá bỏ những bất hoà chia rẽ để tiến tới đời sống yêu thương hiệp nhất theo mô hình Ba Ngôi.

Xin cho tình yêu của Ba Ngôi liên kết chúng con nên một, để đời sống gia đình và cộng đoàn chúng con trở thành hình ảnh sống động của Thiên Chúa Ba Ngôi.

(tinmung.net)

Thứ Bảy, 26 tháng 5, 2012

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT CHÚA THÁNH THẦN HIỆN XUỐNG (Ga 20, 19-23)


 
TÁC ĐỘNG CỦA THÁNH THẦN
Sưu tầm
Chúa Thánh Thần làm gì cho chúng ta? Đó là vấn đề chúng ta cùng nhau tìm hiểu và chia sẻ trong một vài phút ngắn ngủi này.

Đọc lại Phúc âm, chúng ta thấy các môn đệ, mặc dù đã bước theo Chúa, mặc dù đã được lắng nghe những lời khôn ngoan Chúa dạy, mặc dù đã được nhìn thấy những việc lạ lùng Chúa làm, thế nhưng các ông cũng chẳng lĩnh hội được bao nhiêu và đức tin cũng chưa bén thể rễ sâu trong cõi lòng các ông.

Sở dĩ như vậy vì đầu óc các ông còn u mê dốt nát và mang nặng tinh thần thế gian.

Thực vậy, cũng như phần đông những người Do Thái khác, các ông đang trông chờ, mong đợi một đấng cứu thế trong lãnh vực chính trị và xã hội.

Đấng ấy phải hùng mạnh như Đavít với kỵ binh và cbiến mã rợp trời. Đấng ấy phải khôn ngoan như Salômon, khiến cho muôn dân nước phải nể phục. Đấng ấy sẽ đến để giải thoát họ khỏi ách nô lệ của đế quốc La Mã, dẫn đưa dân tộc họ bước vào một thời đại hoàng kim.

Và lúc bấy giờ các ông sẽ được làm lớn và giữ những chức vụ quan trọng trong vương quốc của Ngài, cùng với một cuộc sống nhiều đặc ân và bổng lộc, giàu sang và quyền thế, theo kiểu “vinh thân phì gia”.

Chính vì thế, các ông thường tranh cãi xem ai là người cao trọng nhất, đồng thời các ông không thể nào chấp nhận được những khổ đau và cái chết tủi nhục trên thập giá mà Chúa Giêsu đã tiên báo.

Thế nhưng, sau khi Chúa Thánh Thần hiện xuống, các ông đã đổi đời, đã thoát xác, đã trở nên những con người mới, am hiều và thông suốt về giáo lý của Chúa Giêsu, nhất là về màu nhiệm thập giá, để rồi hôm nay, ngày lễ Ngũ tuần, Phêrô thay mặt cho nhóm mười hai đã lên tiếng rao giảng về chính những điều trước đây ông đã không hiểu cũng như không muốn hiểu.

Ngoài ra, Chúa Thánh Thần còn làm gì nữa?

Nhìn vào các tông đồ, chúng ta thấy các ông không phải chỉ là những kẻ u mê và dốt nát, mà còn là nhưng kẻ hèn nhát và sợ sệt. Phúc âm đã ghi lại như sau:

Khi thấy sóng gió nổi lên, các ông đã hoảng sợ đến cuống cuồng, khiến Chúa Giêsu phải lên tiếng trách:

- Hời những kẻ hèn tin, tạo sao các con sợ hãi.

Sự sợ hãi này còn được biểu lộ một cách rõ rệt hơn nữa trong cuộc thương khó. Giuđa đã bán Chúa với giá ba mươi đồng bạc, giá bán một tên nô lệ, và chỉ bằng một phần mười giá bán một chai thuốc thơm, Mađalêna đã dùng để xức vào chân Chúa Giêsu. Phêrô đã chối Chúa ba lần trong sân nhà thầy cả thượng phẩm chỉ vì một câu hỏi vu vơ. Còn các môn đệ khác đều đã bỏ Chúa mà chạy trốn, ngoại trừ Gioan là đã theo Chúa đến cùng và đã có mặt dưới chân cây thập giá. Ngay cả sau khi Chúa đã sống lại, các ông tụ họp với nhau trong phòng, mà cửa thì đóng kín vì sợ người Do Thái.

Thế nhưng, dưới tác động của Chúa Thánh Thần, các ông đã hoàn toàn đổi mới: từ những kẻ hèn nhất và sợ sệt, các ông đã trờ nên những con người can đảm và hăng say rao giảng Tin mừng.

Hơn thế nữa, các ông còn sẵn sàng chấp nhận cái chết, cũng như đổ ra cho đến giọt máu cuối cùng để làm chứng cho tình yêu của Đức Kitô.

Thực vậy, trong số mười hai tông đồ, thì đã có tới mười một ông hy sinh mạng sống cho Tin mừng, chỉ trừ một mình Gioan là đã chết già tại cộng đoàn Êphêsô mà thôi.

Còn chúng ta thì sao?

Rất có thể lúc này chúng ta cũng đang là những kẻ mê muội và dốt nát, chẳng hiểu biết được bao nhiều về giáo lý của Chúa.

Rất có thể lúc này chúng ta cũng đang là những kẻ hèn nhát và sợ sệt, chúng ta sẵn sàng bán Chúa và chối bỏ Ngài bất cứ ở đâu, bất cứ lúc nào và bất cứ vì lý do gì.

Chính vì thế, chúng ta hãy cầu xin Chúa Thánh Thần ngự xuống trong tâm hồn, để biến đổi chúng ta trở thành những con người mới luôn hiểu và sống Tin mừng, cũng như luôn hăng say phục vụ Chúa nơi những người anh em bất hạnh và khổ đau.
(tinmung.net)

Chủ Nhật, 20 tháng 5, 2012

LỜI CHÚA CHÚA NHẬT THĂNG THIÊN NĂM B (Mc 16, 15-20)


 Mời xem videoclip>>
 
RA ĐI
Sưu tầm
Các sân bay là những nơi có nhiều niềm vui cũng như nước mắt. Có những người ngẩng đầu lên để nhìn thoáng qua lần đầu người thân của mình đang đến. Trong khi đó, lại có những người khác với đôi mắt nhòe lệ nhìn lần cuối một người thân ra đi. Ngày lễ hôm nay tưởng niệm việc Chúa Kitô lên trời, nhưng thực chất không phải là một cuộc ra đi. Dĩ nhiên, Chúa Kitô không còn được nhìn thấy bằng mắt thường nữa. Thánh Luca viết: “Chúa Giêsu được cất lên ngay trước mắt các ông và có đám mây quyện lấy Người, khiến các ông không còn thấy Người nữa”.

Lễ Chúa Giêsu lên trời không phải là câu chuyện Chúa ra đi. Ngược lại là đàng khác! Người vẫn tiếp tục hiện diện, nhưng theo một cách mầu nhiệm. Người tiếp tục hoạt động trong thế giới này qua các môn đệ. Và vì thế, chúng ta có thể nói hôm nay là ngày cử hành đại lễ của một kết thúc và cũng là của một khởi đầu. Việc hiện diện hữu hình của Chúa Giêsu trên trái đất này đã kết thúc. Bây giờ khởi đầu một triều đại mới mà Người là Vua trên các vua. Vì thế, việc cử hành thánh lễ hôm nay không phải là việc tưởng nhớ một người vắng mặt, nhưng là một cử hành tràn đầy niềm vui cùng với Chúa Kitô đang hiện diện giữa chúng ta.

Thiên thần đã nói với các môn đệ đừng đăm đăm nhìn lên trời nữa. Ngài chỉ cho các ông nơi mà Chúa Giêsu đang cần các ông, đó là ra đi loan báo Tin Mừng cho mọi người. Sứ vụ này vẫn tiếp tục, và đó là sứ vụ của chính chúng ta. Một Kitô hữu đích thực không phải là người cứ nhìn lên trời, chờ Chúa Kitô xuất hiện trên đám mây. Nhưng một Kitô hữu đích thực là người đầy lòng nhiệt thành mang Tin Mừng của Chúa đến cho mọi người. Thế giới ngày nay đang khao khát Tin Mừng của Chúa. Qua chúng ta, Chúa Giêsu muốn đem niềm vui và sự bình an vào trong một thế giới đầy những tai ương, chiến tranh và bất công. Qua chúng ta, Chúa Giêsu muốn đem sự hiểu biết, tình yêu và sự cảm thông vào trong một thế giới đầy tranh chấp, cãi cọ và thù hận. Qua chúng ta, Chúa Giêsu muốn biến đổi thế giới này trở nên một nơi chốn tốt lành hơn. Ngày hôm nay, chúng ta cần thức tỉnh về nhiệm vụ của mình. Chúng ta cần nhìn vào thế giới này với những vấn đề rắc rối của nó, và chúng ta hãy thực hiện việc các tông đồ đã làm sau khi Chúa lên trời đó là chia sẻ Chúa Kitô Cho mọi người.

Lạy Chúa, con tin Chúa vẫn tiếp tục hiện diện trong thế giới này. Xin Chúa ban tràn đầy Thần Khí Chúa xuống trên con để con có thể thi hành nhiệm vụ loan báo Tin Mừng mà Chúa đã ủy thác cho con.

(tinmung.net)